Hiển thị các bài đăng có nhãn Chống Diễn biến Hòa bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chống Diễn biến Hòa bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2016


Báo QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN và đài  truyền hình quốc gia VTV phải chăng đang phát động cuộc học tập làm theo “tư tưởng Mao Trạch Đông”?

Sự kiện VTV truyền hình trực tiếp cuộc trao giải thưởng thi viết về “Những tấm gương bình dị và cao quí” do báo QĐND tổ chức ngày 11/6 gây chấn động dư luận nước ta. Nhiều người an ủi che đỡ hai cơ quan trên và nói rằng là “sai sót, nhầm lẫn”.

VTVcangoitriethocMao

Bốn ngày đã trôi qua sau khi mạng FB và 4 tờ báo nhà nước đã nêu ra nhưng VTV và báo QĐND vẫn im lặng khó hiểu, án binh bất động (?!).

Im lặng là đồng ý, như thế là, hai cơ quan thông tấn này khẳng định họ làm đúng. Làm đúng thì việc gì phải thanh minh hay nhận lỗi.

MC Thảo Vân tuyên bố trong phần khai mạc lễ trao giải “nhân đây chúng ta cùng nhau khẳng định đi theo con đường của Bác”.

MC này không nói rõ Bác nào (Bác Hồ hay Bác Mao). Tuy nhiên bức tranh trên phông nền in hình nhân vật công nhân giơ lên cuốn sách “Mao ngữ tuyển”, thế thì rõ ràng là học tập “bác Mao”rồi.

baodaicangoitriethocMao

Dù bức tranh không có hàng chữ Hán (cắt gọt rồi) nhưng nó xuất hiện như một điển cố, điển tích. “Điển cố điển tích” là dấu hiệu đơn giản gợi ý đến một câu chuyện cổ, danh ngôn cổ, tư tưởng cổ, một chân lý mặc định coi như công chúng đã biết nội dung đầy đủ từ trước rồi. Ví như Truyện Kiều chỉ cần để cô Kiều nói “Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay/ Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi, Trương” (cố nhiên người đọc phải biết điển cố về chàng Trương Quân Thụy và nàng Thôi Oanh Oanh yêu nhau tự do trong truyện tình Tây sương ký của Vương Thực Phủ).

Bức tranh TQ của báo QĐND và VTV đưa lên nhắc nhở khán giả Việt Nam cái điển cố về trước tác của họ Mao.

Dưới bức tranh gốc có hàng chữ đỏ rực:
大學大用毛主席光輝哲學思想: “Đại học đại dụng Mao chủ tịch quang huy triết học tư tưởng” – “Học tập và vận dụng rộng rãi tư tưởng triết học rạng ngời của chủ tịch Mao”.

Tư tưởng triết học Mao là cái gì?

Mao đã viết nhiều tác phẩm về triết học, quân sự, chính trị nhằm phục vụ “cách mạng” và xây dựng nước Trung Hoa mới. Các tác phẩm chính “Bàn về mâu thuẫn”, “Bàn về thực tiễn”, “Vấn đề chiến lược của chiến tranh cách mạng Trung Quốc”, “Bàn về đánh lâu dài”, “Bàn về chủ nghĩa dân chủ mới”… Các bài nói “Vấn đề giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”, “Hội nghị toạ đàm về văn nghệ tại Diên An”,…

Công- nông- binh có thì giờ đâu mà đọc trước tác, vậy nên họ chỉ cần nghe những danh ngôn của Mao được lưu truyền dân gian hóa ngắn gọn như “Súng đẻ ra chính quyền”, “Trí thức là cục phân” thế là xong.

Hai trong số các sách trên, chỉ có “Bàn về mâu thuẫn”, “Bàn về thực tiễn” thuộc phạm trù “tư tưởng triết học”.

Bài viết “Bàn về mâu thuẫn” dựng lên bức tranh khái quát về sự phát triển của triết học Mác ở Trung Quốc. Trong đó, tác giả tập trung vào một số nội dung chính: 1/ Phân tích tiến trình truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc; 2/ Phân tích sự vận dụng triết học Mác ở Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử, chỉ ra một số thiếu sót trong quá trình đó; 3/ Luận giải sự biến đổi hình thái tồn tại của triết học Mác; 4/ Đề cập đến triển vọng phát triển của triết học Mác ở Trung Quốc trên các khía cạnh: đối với bản thân triết học Mác, quan hệ giữa triết học Mác với các trào lưu triết học khác và khả năng của  nó trong việc giải quyết các vấn đề lý luận, thực tiễn mới nảy sinh.

Từ “mâu thuẫn” nguyên tiếng Trung nghĩa là nói năng tự trái ngược nhau. Đã có truyện ngụ ngôn dân gian về mâu thuẫn (một anh thợ rèn đi bán cái mâu(ngọn giáo). Anh ta rao mâu này có thể đâm thủng mọi cái “thuẫn”(mộc,khiên che đỡ). Hôm sau đi bán“thuẫn” anh ta lại rao “cái thuẫn này ngăn cản được mọi cái “mâu”. Khi khách hàng hỏi vặn “cái mâu của ông có đâm thủng cái thuẫn của ông không? – anh bán hàng thẹn quá, xách “mâu” và “thuẫn” bỏ đi mất. Triết học dân gian Trung Hoa đã phản biện “qui luật của Marx và Mao” giản dị như thế thôi.

Cuốn sách “Bàn về mâu thuẫn” của Mao Trạch Đông nguyên văn là “Mâu thuẫn luận” (矛盾论).

Thực chất “tư tưởng triết học Mao” là gì?

Tư tưởng Mao là gì mà VTV ca ngợi?
                                            Tư tưởng triết học Mao là gì mà VTV ca ngợi?

Ông Mao đọc Karl Marx qua bản dịch (nghe nói ông Mao không bao giờ biết ngoại ngữ).

Marx có ba qui luật: 1. Quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển / 2.Quy luật lượng – chất chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển/ 3. Quy luật phủ định chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển, Bên cạnh đó Marx còn phân ra 6 cặp phạm trù bao trùm thế giới.

Mao tâm đắc nhất qui luật 1 là “Mâu thuẫn”. Giải quyết “mâu thuẫn”, theo ông ta, là “bạo lực, chuyên chính vô sản”.

Tuy nhiên Mao tìm cách bôi son trát phấn mang màu sắc Trung Quốc, mông má xong dán nhãn Tư tưởng Mao lên trên. Một trong các “màu sắc” đó là “tư tưởng Lão Tử” một nhà triết học cổ đại sớm nhất của TQ viết nên cuốn “Đạo đức kinh”. Triết lý âm dương được vận dụng triệt để trong Lão Tử chính là qui luật mâu thuẫn và qui luật lượng đổi chất đổi, với các qui luật dơn giản “cùng tắc biến, cùng tắc phản”. Tuy nhiên Lão Tử khuyên cứ mặc cho thế giới vận động tự nhiên, thì Mao phát triển thành “ý chí con người có thể thay đổi mâu thuẫn”. Chỗ này Mao tâm đắc với Marx, đây là sai lầm chết người của họ. Từ sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, giới nghiên cứu gọi đó là căn bệnh “Duy ý chí”.

Ai từng học qua đại học ở Việt Nam hoặc lớp trung cấp chính trị trở lên hẳn đều biết “Qui luật mâu thuẫn” của Marx.

Các GS, TS của Viện Triết học thuộc Viện HLKHXH Việt Nam tâng bốc thế này:“Sự truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc hầu như diễn ra trong suốt thế kỷ XX. Đây là một quá trình lịch sử lâu dài của “trăm sông dồn về một biển”, của tinh hoa văn hoá được truyền bá rộng khắp cho quảng đại quần chúng. Trong quá trình lịch sử này, khởi đầu của sự truyền bá, nội dung và phương thức truyền bá, phạm vi và đối tượng truyền bá đều có sự đặc sắc”.

Viện Triết học Việt Nam lại viết:

“Hai tác phẩm của Mao Trạch Đông: Bàn về thực tiễn và Bàn về mâu thuẫn có thể coi là tiêu biểu cho quá trình Trung Quốc hoá sự truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc. Lúc này, nội dung của triết học Mác đã gắn chặt với công cuộc tổng kết kinh nghiệm cách mạng cũng như dung hoà với tinh hoa văn hoá truyền thống Trung Quốc”.

Đặng Tiểu Bình điên tiết tung ra thuyết “Bạch miêu, hắc miêu ” (Mèo trắng mèo đen) ngắn gọn, thực dụng, người dân TQ khoan khoái tiếp thu và truyền bá, vì cái này đúng bản tính dân tộc 5 ngàn năm.

Xong! Thế là mặc kệ cái viện Triết học hàn lâm TQ đã vô tích sự lại còn nhiễu sự. Ông Bình còn đưa ra cụm từ “xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc” thế là gọn, khỏi cãi nhau Mác với Lê Nin và Mao. Cái “màu sắc” ấy nó biến đổi như màu da con tắc kè hoa hay con kỳ nhông trong tay kẻ thống trị đại Hán.

Kết

Xin hỏi, báo QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN và đài  truyền hình quốc gia VTV phải chăng đang phát động cuộc học tập làm theo “tư tưởng Mao Trạch Đông”? Nếu quả vậy thì phải triển khai cho đảng viên học trước, quần chúng sẽ theo sau chứ. Sao lại ỡm ờ đưa cái hình công nhân- trí thức giơ cao “Trước tác của Mao” mà lại cắt xén hết các chữ Hán trên hình. Thế là thế nào? Quí vị định phi tang nguồn gốc hay là “đố vui khán giả” ?

Giang Nam

(VNTB)
20:19 Unknown

Báo QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN và đài  truyền hình quốc gia VTV phải chăng đang phát động cuộc học tập làm theo “tư tưởng Mao Trạch Đông”?

Sự kiện VTV truyền hình trực tiếp cuộc trao giải thưởng thi viết về “Những tấm gương bình dị và cao quí” do báo QĐND tổ chức ngày 11/6 gây chấn động dư luận nước ta. Nhiều người an ủi che đỡ hai cơ quan trên và nói rằng là “sai sót, nhầm lẫn”.

VTVcangoitriethocMao

Bốn ngày đã trôi qua sau khi mạng FB và 4 tờ báo nhà nước đã nêu ra nhưng VTV và báo QĐND vẫn im lặng khó hiểu, án binh bất động (?!).

Im lặng là đồng ý, như thế là, hai cơ quan thông tấn này khẳng định họ làm đúng. Làm đúng thì việc gì phải thanh minh hay nhận lỗi.

MC Thảo Vân tuyên bố trong phần khai mạc lễ trao giải “nhân đây chúng ta cùng nhau khẳng định đi theo con đường của Bác”.

MC này không nói rõ Bác nào (Bác Hồ hay Bác Mao). Tuy nhiên bức tranh trên phông nền in hình nhân vật công nhân giơ lên cuốn sách “Mao ngữ tuyển”, thế thì rõ ràng là học tập “bác Mao”rồi.

baodaicangoitriethocMao

Dù bức tranh không có hàng chữ Hán (cắt gọt rồi) nhưng nó xuất hiện như một điển cố, điển tích. “Điển cố điển tích” là dấu hiệu đơn giản gợi ý đến một câu chuyện cổ, danh ngôn cổ, tư tưởng cổ, một chân lý mặc định coi như công chúng đã biết nội dung đầy đủ từ trước rồi. Ví như Truyện Kiều chỉ cần để cô Kiều nói “Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay/ Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi, Trương” (cố nhiên người đọc phải biết điển cố về chàng Trương Quân Thụy và nàng Thôi Oanh Oanh yêu nhau tự do trong truyện tình Tây sương ký của Vương Thực Phủ).

Bức tranh TQ của báo QĐND và VTV đưa lên nhắc nhở khán giả Việt Nam cái điển cố về trước tác của họ Mao.

Dưới bức tranh gốc có hàng chữ đỏ rực:
大學大用毛主席光輝哲學思想: “Đại học đại dụng Mao chủ tịch quang huy triết học tư tưởng” – “Học tập và vận dụng rộng rãi tư tưởng triết học rạng ngời của chủ tịch Mao”.

Tư tưởng triết học Mao là cái gì?

Mao đã viết nhiều tác phẩm về triết học, quân sự, chính trị nhằm phục vụ “cách mạng” và xây dựng nước Trung Hoa mới. Các tác phẩm chính “Bàn về mâu thuẫn”, “Bàn về thực tiễn”, “Vấn đề chiến lược của chiến tranh cách mạng Trung Quốc”, “Bàn về đánh lâu dài”, “Bàn về chủ nghĩa dân chủ mới”… Các bài nói “Vấn đề giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”, “Hội nghị toạ đàm về văn nghệ tại Diên An”,…

Công- nông- binh có thì giờ đâu mà đọc trước tác, vậy nên họ chỉ cần nghe những danh ngôn của Mao được lưu truyền dân gian hóa ngắn gọn như “Súng đẻ ra chính quyền”, “Trí thức là cục phân” thế là xong.

Hai trong số các sách trên, chỉ có “Bàn về mâu thuẫn”, “Bàn về thực tiễn” thuộc phạm trù “tư tưởng triết học”.

Bài viết “Bàn về mâu thuẫn” dựng lên bức tranh khái quát về sự phát triển của triết học Mác ở Trung Quốc. Trong đó, tác giả tập trung vào một số nội dung chính: 1/ Phân tích tiến trình truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc; 2/ Phân tích sự vận dụng triết học Mác ở Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử, chỉ ra một số thiếu sót trong quá trình đó; 3/ Luận giải sự biến đổi hình thái tồn tại của triết học Mác; 4/ Đề cập đến triển vọng phát triển của triết học Mác ở Trung Quốc trên các khía cạnh: đối với bản thân triết học Mác, quan hệ giữa triết học Mác với các trào lưu triết học khác và khả năng của  nó trong việc giải quyết các vấn đề lý luận, thực tiễn mới nảy sinh.

Từ “mâu thuẫn” nguyên tiếng Trung nghĩa là nói năng tự trái ngược nhau. Đã có truyện ngụ ngôn dân gian về mâu thuẫn (một anh thợ rèn đi bán cái mâu(ngọn giáo). Anh ta rao mâu này có thể đâm thủng mọi cái “thuẫn”(mộc,khiên che đỡ). Hôm sau đi bán“thuẫn” anh ta lại rao “cái thuẫn này ngăn cản được mọi cái “mâu”. Khi khách hàng hỏi vặn “cái mâu của ông có đâm thủng cái thuẫn của ông không? – anh bán hàng thẹn quá, xách “mâu” và “thuẫn” bỏ đi mất. Triết học dân gian Trung Hoa đã phản biện “qui luật của Marx và Mao” giản dị như thế thôi.

Cuốn sách “Bàn về mâu thuẫn” của Mao Trạch Đông nguyên văn là “Mâu thuẫn luận” (矛盾论).

Thực chất “tư tưởng triết học Mao” là gì?

Tư tưởng Mao là gì mà VTV ca ngợi?
                                            Tư tưởng triết học Mao là gì mà VTV ca ngợi?

Ông Mao đọc Karl Marx qua bản dịch (nghe nói ông Mao không bao giờ biết ngoại ngữ).

Marx có ba qui luật: 1. Quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển / 2.Quy luật lượng – chất chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển/ 3. Quy luật phủ định chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển, Bên cạnh đó Marx còn phân ra 6 cặp phạm trù bao trùm thế giới.

Mao tâm đắc nhất qui luật 1 là “Mâu thuẫn”. Giải quyết “mâu thuẫn”, theo ông ta, là “bạo lực, chuyên chính vô sản”.

Tuy nhiên Mao tìm cách bôi son trát phấn mang màu sắc Trung Quốc, mông má xong dán nhãn Tư tưởng Mao lên trên. Một trong các “màu sắc” đó là “tư tưởng Lão Tử” một nhà triết học cổ đại sớm nhất của TQ viết nên cuốn “Đạo đức kinh”. Triết lý âm dương được vận dụng triệt để trong Lão Tử chính là qui luật mâu thuẫn và qui luật lượng đổi chất đổi, với các qui luật dơn giản “cùng tắc biến, cùng tắc phản”. Tuy nhiên Lão Tử khuyên cứ mặc cho thế giới vận động tự nhiên, thì Mao phát triển thành “ý chí con người có thể thay đổi mâu thuẫn”. Chỗ này Mao tâm đắc với Marx, đây là sai lầm chết người của họ. Từ sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, giới nghiên cứu gọi đó là căn bệnh “Duy ý chí”.

Ai từng học qua đại học ở Việt Nam hoặc lớp trung cấp chính trị trở lên hẳn đều biết “Qui luật mâu thuẫn” của Marx.

Các GS, TS của Viện Triết học thuộc Viện HLKHXH Việt Nam tâng bốc thế này:“Sự truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc hầu như diễn ra trong suốt thế kỷ XX. Đây là một quá trình lịch sử lâu dài của “trăm sông dồn về một biển”, của tinh hoa văn hoá được truyền bá rộng khắp cho quảng đại quần chúng. Trong quá trình lịch sử này, khởi đầu của sự truyền bá, nội dung và phương thức truyền bá, phạm vi và đối tượng truyền bá đều có sự đặc sắc”.

Viện Triết học Việt Nam lại viết:

“Hai tác phẩm của Mao Trạch Đông: Bàn về thực tiễn và Bàn về mâu thuẫn có thể coi là tiêu biểu cho quá trình Trung Quốc hoá sự truyền bá triết học Mác ở Trung Quốc. Lúc này, nội dung của triết học Mác đã gắn chặt với công cuộc tổng kết kinh nghiệm cách mạng cũng như dung hoà với tinh hoa văn hoá truyền thống Trung Quốc”.

Đặng Tiểu Bình điên tiết tung ra thuyết “Bạch miêu, hắc miêu ” (Mèo trắng mèo đen) ngắn gọn, thực dụng, người dân TQ khoan khoái tiếp thu và truyền bá, vì cái này đúng bản tính dân tộc 5 ngàn năm.

Xong! Thế là mặc kệ cái viện Triết học hàn lâm TQ đã vô tích sự lại còn nhiễu sự. Ông Bình còn đưa ra cụm từ “xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc” thế là gọn, khỏi cãi nhau Mác với Lê Nin và Mao. Cái “màu sắc” ấy nó biến đổi như màu da con tắc kè hoa hay con kỳ nhông trong tay kẻ thống trị đại Hán.

Kết

Xin hỏi, báo QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN và đài  truyền hình quốc gia VTV phải chăng đang phát động cuộc học tập làm theo “tư tưởng Mao Trạch Đông”? Nếu quả vậy thì phải triển khai cho đảng viên học trước, quần chúng sẽ theo sau chứ. Sao lại ỡm ờ đưa cái hình công nhân- trí thức giơ cao “Trước tác của Mao” mà lại cắt xén hết các chữ Hán trên hình. Thế là thế nào? Quí vị định phi tang nguồn gốc hay là “đố vui khán giả” ?

Giang Nam

(VNTB)
Sáng gã cùng gs Tương Lai, nhà thơ Nguyễn Duy, tiến sĩ Trương Đình Hiển ra Nghĩa trang  Thành phố. 8 năm rồi thủ tướng Võ Văn Kiệt ra đi. 

Hàng đầu là những ngôi mộ của những lãnh đạo  cao cấp của đảng và quốc gia như  Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Võ Trần Chí... Trên bia mộ vị nào cũng đề rất nhiều chức tước đã kinh qua trong đảng, uỷ viên bộ chính trị, bí thư trung ương. Duy trên bia mộ của ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Văn Trà  chỉ ghi vỏn vẹn: Thủ tướng Võ Văn  Kiệt, Đại tướng Mai Chí Thọ, Thượng tướng Trần Văn Trà. Đặc biệt hơn là trên bia mộ của ông Kiệt bên cạnh tấm hình của ông còn có tấm hình của bà Trần Kim Anh, người vợ đầu yêu thương của ông đã bị chết mất xác vì bom Mỹ trong chiến tranh. Có lẽ đây là tấm bia mộ lãnh đạo quốc gia VN duy nhất có hình vợ chồng song đôi như vậy.

Thắp nhang cho ông Kiệt xong gã thắp thêm cây nhang cho bà Nguyễn Thị Định. Gã thương bà Định thủ lĩnh đội quân tóc dài, cả cuộc đời vá áo cho lính nhưng chưa một lần được vá áo cho cậu con trai duy nhất, và rồi giữa chiến trường sôi việc nước phải nhận tin con trai chết chỉ vì  chuyện chả liên quan tới việc nước.

Nguyễn Duy kể cái xuất mộ kia của ông Kiệt ông Kiệt tuyên bố nhường cho nhà văn Nguyễn Khải. Chuyện là thế này, khi nhà văn Nguyễn Khải tác giả của “Đi tìm cái tôi đã mất” mất, Nguyễn Duy đại diện Hội Nhà văn VN  lên Thành uỷ TP HCM xin một xuất đất để nhà văn yên nghỉ tại Nghĩa trang TP. Người ta trả lời đất chật quá rồi, ông nhà văn không đủ tiêu chuẩn chôn ở đây. Chạy vạy các cửa đều không được, Nguyễn Duy bèn nhớ tới ông Kiệt. Ông Kiệt bảo tiêu chuẩn của nhà văn là tác phẩm chứ đâu phải là chức tước hay cách mạng tiền khởi nghĩa. Ông điện cho ông Ba Đua lúc ấy là phó bí thư Thành uỷ yêu cầu lấy xuất của ông chôn ở nghĩa trang TP cho nhà văn Nguyễn Khải. Đương nhiên anh Ba Đua kia đâu dám làm như thế. Và thế là nhà văn Nguyễn Khải đỡ phải ra tận nghĩa trang ở  Củ Chi xa xôi để chiêm nghiệm “cái tôi”  khi mất thật thì tìm lại bằng cách nào?

Phái đoàn của gã tới nhà Hiếu Dân, con gái ông Kiệt để dự đám giỗ sớm thứ nhì. Sớm nhất là đoàn của tỉnh Vĩnh Long quê hương ông Kiệt do ông bí thư và chủ tịch dẫn đầu. Tại bàn thờ của vợ chồng ông Kiệt có  vòng hoa của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, chủ tịch nước Trần Đại Quang, chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân... bên vòng hoa của những người nông dân Nam Bộ.

Gs Tương Lai chọn chỗ ngồi khá thuận lợi cho việc quan sát. Và cái bàn của gs Tương Lai ngồi toàn trí thức thành phần cộm cán được gọi là “thoái hoá tư tưởng” đòi đa nguyên . Gã cứ nói toẹt ra theo ngôn ngữ của những người được phân công thường xuyên bám sát để mắt theo dõi  từng chuyển dịch của họ là thành phần... “phản động”. Này nhé Huỳnh Kim Báu chủ nhiệm câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, này nhé Lê Công Giàu, này nhé Huỳnh Tấn Mẫm.

 Riêng Nguyễn Duy và gã giản đơn chỉ là  “tay chơi văn nghệ” mà bản tính của “tay chơi văn nghệ” là tự kiêu ngạo ta đây cho mình cái quyền đứng ngoài các ... phe phái. Nói riêng cho chính xác  là  Nguyễn Duy và gã chơi với bất cứ ai dù là “phản động”  hay vững chắc “lập trường cộng sản”  đối chọi nhau bôm bốp,  miễn là mình... thích. Trường phái này dân gian gọi là trường phái “tuy là”. Đại loại, đồng chí ấy hay tay ấy tuy là... nhưng mà ...tốt.

Nguyên chủ tịch nước Trương Tấn Sang xuất hiện. Ông được Hiếu Dân dẫn vào ngồi bàn quan khách bên dưới bức ảnh rất lớn của ông Kiệt mà lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long đang ngồi uống trà. Ông Sang đang chuyện trò với bí thư, chủ tịch Vĩnh Long thì nhận ra bàn phía ngoài rìa có nhóm trí thức chủ xướng của nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa  và chủ xướng nhiều kiến nghị thay đổi cho đất nước, ông lập tức đứng dậy rồi đi rất nhanh tới.

Ông lần lượt bắt tay Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Huỳnh Kim Báu, Tương Lai, Nguyễn Duy, Trương Đình Hiển và đương nhiên cả gã.( Xin mở ngoặc , gã chỉ là người do ngồi cùng bàn nên là người duy nhất được bắt tay ăn theo thôi).

 Nhìn điệu bộ của ông gã tin chắc ông không thể nhớ gã đã từng đối chất với ông về hợp tác hoá nông nghiệp khi ông là bí thư huyện uỷ huyện Bình Chánh. Nhưng nếu gã chỉ cần nói tôi là người đề nghị ông bỏ lá cờ “thành tích hợp tác hoá  nông nghiệp hàng đầu” xuống vì đó là một sai lầm  ấu trĩ về kinh tế  tập thể bao cấp thì thể nào ông sẽ “à” lên một cái và nhớ gã là ai. Ông sẽ nhớ vì lúc đó  chính ông đã làm cho gã rất thích thú khi nói “Để tôi bàn với thường vụ huyện uỷ gỡ xuống” mà không hề tỏ ra bực tức gì, để rồi ông nhận được lời tiên đoán của gã rằng “sau này ông sẽ lên to lắm” làm mắt ông lim dim như tủm tỉm cười.

Nhưng rồi sau này gã có nghe được một nguồn tin rằng, sau khi gã vừa biến thì ông đã mắng một anh cán bộ tuyên huấn huyện: Thằng nào kêu tay nhà báo ăn nói lung tung ấy tới vậy?

Thực ra theo tường thuật của nguồi tin gã  chưa  trực tiếp kiểm chứng kia là ông còn kèm theo một câu chửi thề nữa. Gã chả trách ông  vì thời đó những năm tám mươi của thế kỉ trước hợp tác hoá nông nghiệp vẫn là một phong trào thi đua yêu nước mà cả nước đang tích cực theo. Nếu ông có chửi gã và cho rằng gã ăn nói lung tung là rất đúng.

Bây giờ sau gần ba mươi năm ông trước mặt gã và bắt tay gã. Công nhận bàn tay ông ấm và cái bắt tay chặt.

Khi ông bắt tay Nguyễn Duy ông nhắc đi nhắc lại câu: Tái hồi Kim Trọng nha, Nguyễn Duy!

Ông trở về bàn khách trung tâm rất nhiều quan chức chính phủ và quan chức Sài Gòn đã có mặt. Ngồi chuyện trò với các quan chức trên một lúc, gã thấy ông nhòm đồng hồ rồi đứng dậy. Và trong chiếc sơ mi màu mỡ gà ông lại đi rất nhanh đến bàn rìa này. Ông đứng sau lưng Lê Công Giàu nắm chặt tay Lê Công Gìau rồi nói giọng trầm hẳn chân thành chứ không hề mang tính hài hước.

- Tên là Giàu mà lại nghèo.

Ông có ý chia sẻ tới với nhà cách mạng từng bị tù Côn Đảo này sống trong sạch nên nghèo. Ông cũng biết trong đám giỗ của ông Võ Văn Kiệt có rất nhiều ánh mắt với những quan điểm, tư tưởng khác nhau thậm chí đối chọi nhau- bảo thủ, hà khắc nguyên tắc, lập trường cứng ngắc, hay tiến bộ, thông thoáng... đang dòm ngó từng cử chỉ của người mới mấy tháng trước đây là nguyên thủ quốc gia để xem ông có thái độ thế nào với đám  nổi tiếng... chống đối. Ông đưa thêm một bàn tay nữa ấp lên bàn tay gầy guộc, xanh xao của Lê Công Giàu. Gã thấy ông rơm rớm nước mắt.

Gã độp hỏi ông:

-Vậy tên anh là Sang anh có sang không?

Ông  hơi sững lại trước câu hỏi bất ngờ đầy hàm ý của gã rồi đáp:

-Cũng chả sang gì...

Ông nở nụ cười chả rõ thật hay ....diễn.

-Tôi xin phép có việc phải về trước. Và không quên nói với Nguyễn Duy một lần nữa: Nhớ tái hồi Kim Trọng nha!

Không biết khi ra xe ông có lẩm bẩm  chửi gã- thằng cha  hỏi móc lò dễ ghét, không ?

*** 
Gã hỏi Nguyễn Duy  “Tái hồi Kim Trọng” là thế nào? Nguyễn Duy bảo: Trước đây cứ tết là ông Tư Sang đều mời nhiều trí thức văn nghệ sĩ trong đó có tôi tới ăn tết với ông. Nhưng ba năm nay tôi không thấy hứng  nên tôi không tới... Ông nghĩ chắc tôi có điều gì không hài lòng về ông.

Từ phía ngoài gã thấy một người đàn ông cao lớn mặc áo sơ mi xanh da trời xuất hiện. Bây giờ thì gã đã hiểu lí do vì sao ông Tư Sang muốn về sớm rồi.

Người đàn ông cao lớn kia chân khập khiễng rất khác với hình ảnh của ông trên các thảm đỏ nhiều quốc gia với bước đi bành bạnh ngang tàng.

Ông là ai?

Ngày mai gã sẽ kể.

Lưu Trọng Văn

(FB  Lưu Trọng Văn)
16:35 Unknown
Sáng gã cùng gs Tương Lai, nhà thơ Nguyễn Duy, tiến sĩ Trương Đình Hiển ra Nghĩa trang  Thành phố. 8 năm rồi thủ tướng Võ Văn Kiệt ra đi. 

Hàng đầu là những ngôi mộ của những lãnh đạo  cao cấp của đảng và quốc gia như  Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Võ Trần Chí... Trên bia mộ vị nào cũng đề rất nhiều chức tước đã kinh qua trong đảng, uỷ viên bộ chính trị, bí thư trung ương. Duy trên bia mộ của ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Văn Trà  chỉ ghi vỏn vẹn: Thủ tướng Võ Văn  Kiệt, Đại tướng Mai Chí Thọ, Thượng tướng Trần Văn Trà. Đặc biệt hơn là trên bia mộ của ông Kiệt bên cạnh tấm hình của ông còn có tấm hình của bà Trần Kim Anh, người vợ đầu yêu thương của ông đã bị chết mất xác vì bom Mỹ trong chiến tranh. Có lẽ đây là tấm bia mộ lãnh đạo quốc gia VN duy nhất có hình vợ chồng song đôi như vậy.

Thắp nhang cho ông Kiệt xong gã thắp thêm cây nhang cho bà Nguyễn Thị Định. Gã thương bà Định thủ lĩnh đội quân tóc dài, cả cuộc đời vá áo cho lính nhưng chưa một lần được vá áo cho cậu con trai duy nhất, và rồi giữa chiến trường sôi việc nước phải nhận tin con trai chết chỉ vì  chuyện chả liên quan tới việc nước.

Nguyễn Duy kể cái xuất mộ kia của ông Kiệt ông Kiệt tuyên bố nhường cho nhà văn Nguyễn Khải. Chuyện là thế này, khi nhà văn Nguyễn Khải tác giả của “Đi tìm cái tôi đã mất” mất, Nguyễn Duy đại diện Hội Nhà văn VN  lên Thành uỷ TP HCM xin một xuất đất để nhà văn yên nghỉ tại Nghĩa trang TP. Người ta trả lời đất chật quá rồi, ông nhà văn không đủ tiêu chuẩn chôn ở đây. Chạy vạy các cửa đều không được, Nguyễn Duy bèn nhớ tới ông Kiệt. Ông Kiệt bảo tiêu chuẩn của nhà văn là tác phẩm chứ đâu phải là chức tước hay cách mạng tiền khởi nghĩa. Ông điện cho ông Ba Đua lúc ấy là phó bí thư Thành uỷ yêu cầu lấy xuất của ông chôn ở nghĩa trang TP cho nhà văn Nguyễn Khải. Đương nhiên anh Ba Đua kia đâu dám làm như thế. Và thế là nhà văn Nguyễn Khải đỡ phải ra tận nghĩa trang ở  Củ Chi xa xôi để chiêm nghiệm “cái tôi”  khi mất thật thì tìm lại bằng cách nào?

Phái đoàn của gã tới nhà Hiếu Dân, con gái ông Kiệt để dự đám giỗ sớm thứ nhì. Sớm nhất là đoàn của tỉnh Vĩnh Long quê hương ông Kiệt do ông bí thư và chủ tịch dẫn đầu. Tại bàn thờ của vợ chồng ông Kiệt có  vòng hoa của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, chủ tịch nước Trần Đại Quang, chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân... bên vòng hoa của những người nông dân Nam Bộ.

Gs Tương Lai chọn chỗ ngồi khá thuận lợi cho việc quan sát. Và cái bàn của gs Tương Lai ngồi toàn trí thức thành phần cộm cán được gọi là “thoái hoá tư tưởng” đòi đa nguyên . Gã cứ nói toẹt ra theo ngôn ngữ của những người được phân công thường xuyên bám sát để mắt theo dõi  từng chuyển dịch của họ là thành phần... “phản động”. Này nhé Huỳnh Kim Báu chủ nhiệm câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, này nhé Lê Công Giàu, này nhé Huỳnh Tấn Mẫm.

 Riêng Nguyễn Duy và gã giản đơn chỉ là  “tay chơi văn nghệ” mà bản tính của “tay chơi văn nghệ” là tự kiêu ngạo ta đây cho mình cái quyền đứng ngoài các ... phe phái. Nói riêng cho chính xác  là  Nguyễn Duy và gã chơi với bất cứ ai dù là “phản động”  hay vững chắc “lập trường cộng sản”  đối chọi nhau bôm bốp,  miễn là mình... thích. Trường phái này dân gian gọi là trường phái “tuy là”. Đại loại, đồng chí ấy hay tay ấy tuy là... nhưng mà ...tốt.

Nguyên chủ tịch nước Trương Tấn Sang xuất hiện. Ông được Hiếu Dân dẫn vào ngồi bàn quan khách bên dưới bức ảnh rất lớn của ông Kiệt mà lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long đang ngồi uống trà. Ông Sang đang chuyện trò với bí thư, chủ tịch Vĩnh Long thì nhận ra bàn phía ngoài rìa có nhóm trí thức chủ xướng của nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa  và chủ xướng nhiều kiến nghị thay đổi cho đất nước, ông lập tức đứng dậy rồi đi rất nhanh tới.

Ông lần lượt bắt tay Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Huỳnh Kim Báu, Tương Lai, Nguyễn Duy, Trương Đình Hiển và đương nhiên cả gã.( Xin mở ngoặc , gã chỉ là người do ngồi cùng bàn nên là người duy nhất được bắt tay ăn theo thôi).

 Nhìn điệu bộ của ông gã tin chắc ông không thể nhớ gã đã từng đối chất với ông về hợp tác hoá nông nghiệp khi ông là bí thư huyện uỷ huyện Bình Chánh. Nhưng nếu gã chỉ cần nói tôi là người đề nghị ông bỏ lá cờ “thành tích hợp tác hoá  nông nghiệp hàng đầu” xuống vì đó là một sai lầm  ấu trĩ về kinh tế  tập thể bao cấp thì thể nào ông sẽ “à” lên một cái và nhớ gã là ai. Ông sẽ nhớ vì lúc đó  chính ông đã làm cho gã rất thích thú khi nói “Để tôi bàn với thường vụ huyện uỷ gỡ xuống” mà không hề tỏ ra bực tức gì, để rồi ông nhận được lời tiên đoán của gã rằng “sau này ông sẽ lên to lắm” làm mắt ông lim dim như tủm tỉm cười.

Nhưng rồi sau này gã có nghe được một nguồn tin rằng, sau khi gã vừa biến thì ông đã mắng một anh cán bộ tuyên huấn huyện: Thằng nào kêu tay nhà báo ăn nói lung tung ấy tới vậy?

Thực ra theo tường thuật của nguồi tin gã  chưa  trực tiếp kiểm chứng kia là ông còn kèm theo một câu chửi thề nữa. Gã chả trách ông  vì thời đó những năm tám mươi của thế kỉ trước hợp tác hoá nông nghiệp vẫn là một phong trào thi đua yêu nước mà cả nước đang tích cực theo. Nếu ông có chửi gã và cho rằng gã ăn nói lung tung là rất đúng.

Bây giờ sau gần ba mươi năm ông trước mặt gã và bắt tay gã. Công nhận bàn tay ông ấm và cái bắt tay chặt.

Khi ông bắt tay Nguyễn Duy ông nhắc đi nhắc lại câu: Tái hồi Kim Trọng nha, Nguyễn Duy!

Ông trở về bàn khách trung tâm rất nhiều quan chức chính phủ và quan chức Sài Gòn đã có mặt. Ngồi chuyện trò với các quan chức trên một lúc, gã thấy ông nhòm đồng hồ rồi đứng dậy. Và trong chiếc sơ mi màu mỡ gà ông lại đi rất nhanh đến bàn rìa này. Ông đứng sau lưng Lê Công Giàu nắm chặt tay Lê Công Gìau rồi nói giọng trầm hẳn chân thành chứ không hề mang tính hài hước.

- Tên là Giàu mà lại nghèo.

Ông có ý chia sẻ tới với nhà cách mạng từng bị tù Côn Đảo này sống trong sạch nên nghèo. Ông cũng biết trong đám giỗ của ông Võ Văn Kiệt có rất nhiều ánh mắt với những quan điểm, tư tưởng khác nhau thậm chí đối chọi nhau- bảo thủ, hà khắc nguyên tắc, lập trường cứng ngắc, hay tiến bộ, thông thoáng... đang dòm ngó từng cử chỉ của người mới mấy tháng trước đây là nguyên thủ quốc gia để xem ông có thái độ thế nào với đám  nổi tiếng... chống đối. Ông đưa thêm một bàn tay nữa ấp lên bàn tay gầy guộc, xanh xao của Lê Công Giàu. Gã thấy ông rơm rớm nước mắt.

Gã độp hỏi ông:

-Vậy tên anh là Sang anh có sang không?

Ông  hơi sững lại trước câu hỏi bất ngờ đầy hàm ý của gã rồi đáp:

-Cũng chả sang gì...

Ông nở nụ cười chả rõ thật hay ....diễn.

-Tôi xin phép có việc phải về trước. Và không quên nói với Nguyễn Duy một lần nữa: Nhớ tái hồi Kim Trọng nha!

Không biết khi ra xe ông có lẩm bẩm  chửi gã- thằng cha  hỏi móc lò dễ ghét, không ?

*** 
Gã hỏi Nguyễn Duy  “Tái hồi Kim Trọng” là thế nào? Nguyễn Duy bảo: Trước đây cứ tết là ông Tư Sang đều mời nhiều trí thức văn nghệ sĩ trong đó có tôi tới ăn tết với ông. Nhưng ba năm nay tôi không thấy hứng  nên tôi không tới... Ông nghĩ chắc tôi có điều gì không hài lòng về ông.

Từ phía ngoài gã thấy một người đàn ông cao lớn mặc áo sơ mi xanh da trời xuất hiện. Bây giờ thì gã đã hiểu lí do vì sao ông Tư Sang muốn về sớm rồi.

Người đàn ông cao lớn kia chân khập khiễng rất khác với hình ảnh của ông trên các thảm đỏ nhiều quốc gia với bước đi bành bạnh ngang tàng.

Ông là ai?

Ngày mai gã sẽ kể.

Lưu Trọng Văn

(FB  Lưu Trọng Văn)
media

Kết qủa của đại hội đảng CSVN 12, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải rời khỏi cuộc chơi để nhường chỗ cho người già tuổi hơn là Nguyễn Phú Trọng ở lại trong ngôi vị TBT.

 Từ đó cuộc thay thế những quan chức thân cận với Nguyễn Tấn Dũng bắt đầu diễn ra. Đầu tiên là tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam đạị tướng Đỗ Bá Tỵ, một tướng lính kinh nghiệm trận mạc nhiều nhất cũng như chuyên môn quân sự cao nhất trong quân đội đã bị thuyên chuyển sang một chức vụ hữu danh vô thực là phó chủ tịch quốc hội. Ông Tỵ trong nhiệm kỳ của mình đã có nhiều thảo luận với bộ quốc phòng Hoa Kỳ về hợp tác quân sự đôi bên. Ông Tỵ cũng là người không có điều tiếng gì về tư cách đạo đức. Việc đưa ông xa rời quân đội vốn là chuyên môn của ông để đặt ông vào cái ghế phó chủ tịch quốc hội bù nhìn là một việc làm tồi tệ nhất của Bộ Chính Trị khoá mới.

Kế tiếp uỷ viên bộ chính trị Nguyễn Thiện Nhân, người vốn dĩ ôn hoà , có kiến thức và cũng không có những điều tiếng ở nguyên chức chủ tịch mặt trận tổ quốc Việt Nam. Nhưng sau đại hội đảng 12, một người khác là bà Trương Thị Mai trúng cử uỷ viên bộ chính trị, được cử vào đoàn chủ tịch mặt trận. Hiện tại bà Mai còn giữ chức Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương của Đảng. Trong khi ông Nhân không có chức vụ gì trong Đảng, ông chỉ giữ chức chủ tịch mặt trận tổ quốc.

 Đây cũng là lần đầu tiên ở cơ quan này có đến hai uỷ viên Bộ Chính Trị tham gia, nhưng với lợi thế là người có giữ chức vụ trong Đảng. Chắc hẳn bà Mai sẽ có nhiều ảnh hưởng trong cơ quan này hơn ông Nhân.

 Quả thực như người ta nói, ghét nhau ghét cả đường đi lối về. So sánh về trình độ và tư cách với những cá nhân khác trong Bộ Chính Trị thì việc hai ông Tỵ, và Nhân phải lép vế trong cảnh hữu danh vô thực như vậy là không công tâm. Việc điều động như này cho thấy sự nhỏ nhen của những nhóm có quyền lực chóp bu là Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh, Trần Đại Quang, Phạm Minh Chính.


Mới đây gần như toàn bộ lãnh đạo của Tây Nam Bộ bị thay thế. Đặc biệt là mô hình phát triển Phú Quốc theo những nước phát triển châu Á do thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trương, đã bị thay nhân sự chủ chốt. Ông Sơn Minh Thắng được Đinh Thế Huynh trao quyết định bổ nhiệm là phó trưởng ban chỉ đạo Tây Nam Bộ vào ngày 24 tháng 5, đến ngày 11 tháng 6 tiếp tục được Nguyễn Xuân Phúc đưa vào chiếc ghế tổ trưởng tổ nghiên cứu phát triển Phú Quốc.

 Ông Sơn Minh Thắng đã từng bị Nguyễn Tấn Dũng đưa vào chức phó chủ nhiệm uỷ ban dân tộc, một chức vụ gần như cho ngồi bỏ xó như thái tử Nông Đức Tuấn đã từng bị tương tự. Nhưng sự ra đi của Nguyễn Tấn Dũng đã khiến Sơn Minh Thắng trở lại quyền lực thực tế. Việc sử dụng Sơn Minh Thắng vào chức vụ hiện nay là đòn thâm độc của nhóm cầm quyền chóp bu. Bởi Sơn Minh Thắng mang trong lòng mối thù bị Nguyễn Tấn Dũng không trọng dụng, giờ trên cương vị mới này Thắng có thể  vì oán thù mà thưc hiện mọi chỉ đạo của nhóm chóp bu, phá tan kế hoạch của Nguyễn Tấn Dũng ở đặc khu kinh tế Phú Quốc.

Hoặc thấy không cần thiết để phá hoại kế hoạch này, Sơn Minh Thắng sẽ lãnh nhiệm vụ kiểm soát và thu hồi những nguồn lợi phát triển ở đặc khu này về tay Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư.

Ngon thì cướp, không ngon thì phá, đó là nhiệm vụ mà nhóm Nguyễn Phú Trọng giao cho Sơn Minh Thắng khi về tiếp quản Tây Nam Bộ và Phú Quốc để kiểm soát những dự án mà cha con nhà Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Thanh Nghị đã dày công xây dựng ở đây.


 Cũng trong tháng 6 này, báo chí liên tục đề cập đến việc đích thân Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo các ban ngành của Đảng, của chính phủ vào cuộc điều tra việc phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang đi xe sang biển xanh.

 Chức phó chủ tịch tỉnh theo phân cấp thì chưa đến mức trung ương quản lý, việc bổ nhiệm và xử lý chức vụ này do thủ tướng chính phủ thực hiện. Việc Nguyễn Phú Trọng nhòm ngó đến trường hợp vi phạm biển số xe, một việc hành chính để từ đó đòi truy xét việc bổ nhiệm vị phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang khiến người ta thấy  khó hiểu trước sự hăng hái thái quá của Nguyễn Phú Trọng.

 Nhưng không có gì khó hiểu, vị phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh này được bổ nhiệm có liên quan đến cựụ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trước đây Thanh từng giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị công ty xây lắp dầu khí Việt Nam, viết tắt PVC, tổng công ty này đã thua lỗ hàng ngàn tỷ. Nhưng kỳ lạ thay Thanh không hề bị nhắc nhở hoặc kỷ luật mặc dù thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đó đã chỉ đạo làm rõ trách nhiệm vụ thua lỗ. Ngay trong lúc khó khăn ấy, Thanh được chuyển đi nơi khác an toàn làm phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang.  Khó có thể nói rằng Thanh thoát được như vậy mà không có sự che chở của Nguyễn Tấn Dũng.

 Và trong cuộc truy kích, thanh trừng toàn diện nhằm vào Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng không dại gì mà bỏ qua bất cứ kẻ nào liên quan đến Dũng. Ngay cả những kẻ vô tội như Đỗ Bá Tỵ, Nguyễn Thiện Nhân còn bị hất đi vào những chỗ ngồi không, thì một kẻ có tội như Trinh Xuân Thanh lẽ nào Nguyễn Phú Trọng bỏ qua. Dù Thanh có là con tép riu không đáng Trọng phải thân chinh mang chức Tổng Bí Thư Đảng ra xử lý, nhưng một khi đã dây dưa với kẻ thù thì kể cả con ruồi cũng bất chấp ngôi vị Tổng Bí Thư để xắn tay áo vác dao mổ bò truy sát.

 Qua những sự việc lên quan đến các cá nhân trên, cho thấy sự thù hận của Nguyễn Phú Trọng với Nguyễn Tấn Dũng cực kỳ khủng khiếp. Sự thù hận này ám ảnh Nguyễn Phú Trọng đến mức suốt cả nhiệm kỳ trước lẫn nhiệm kỳ này, Trọng chỉ nhăm nhăn thực hiện những biện pháp để triệt hạ Dũng bằng được.  Đến mức khi Dũng đã thất thế về hưu, im lặng và tỏ vẻ vô hại như Dũng đi chùa, đi bộ tới nơi bầu cử...Trọng vẫn quyết không tha.

Không những thế, những cây bút của phe Trọng , Huynh , Quang liên tục đưa ra những bài viết quy kết những sai trái và thủ đoạn của Nguyễn Tấn Dũng khi còn tại vị. Đó là một cuộc phối hợp trong ngoài mà phe Trọng vạch ra. Một đằng bên trong truy kích gắt gao, một đằng bên ngoài vận động dư luận đồng tình với việc triệt Dũng tận cùng.

 Có lẽ không phải Nguyễn Bá Thanh chết vì tay Nguyễn Tấn Dũng như thiên hạ từng nghĩ. Bởi nếu Dũng có làm được chuyện đấy, ông ta khó mà để Trọng truy kích mình đến tận bây giờ trên mọi mặt trận như vậy.

 Nguyễn Bá Thanh lúc đương thời làm trưởng ban nôi chính trung ương, ông ta thể hiện kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, nhưng ông ta cũng cho thấy mình là con ngựa bất kham trong việc thực hiện đường lối kinh tế, ngoại giao bảo thủ của tư tưởng chủ nghĩa xã hội. Giả sử nếu ông Thanh còn sống và là uỷ viên bộ chính trị bây giờ, liệu đường lối  và chủ trương của Đảng CSVN ngày nay có được êm ả hay không, khi mà chủ quyền, kinh tế, môi trường đều ở trong mức độ thảm hoạ.? Hay ông ta sẽ có những phát biểu, tư duy, chỉ đạo khiến một lũ bất tài và hèn nhát trong Bộ Chính Trị của Nguyễn Phú Trọng bây giờ phải ê mặt.

 Cái chết của ông Thanh có lợi cho Nguyễn Tấn Dũng lúc đó, nhưng cũng là cái lợi lâu dài của Nguyễn Phú Trọng sau này. Tuy nhiên cũng không vì thế mà kết luận, phe nhóm tay chân của Trọng như Trần Đại Quang đã ra tay hạ sát ông Thanh để trừ hậu hoạ, giữ sự ổn định trong Đảng lâu dài. Cũng khó có thể cho rằng Nguyễn Tấn Dũng đã ra tay hạ sát Nguyễn Bá Thanh. Bởi nếu Dũng làm được điều đó thì lẽ ra cần làm điều dứt điểm hơn là hạ sát Nguyễn Phú Trọng để chấm dứt  nguồn gốc sự truy kích.

 Cuộc truy kích lần này liệu có giữ tiền lệ không truy tố uỷ viên bộ chính trị , hay sẽ phá lệ đưa nguyên thủ ra vành móng ngựa để hạ nhục triệt để. ?

Điều đó thì còn phải chờ xem.

Bùi Thanh Hiếu

(Blog Người Buôn Gió)

03:33 Unknown
media

Kết qủa của đại hội đảng CSVN 12, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải rời khỏi cuộc chơi để nhường chỗ cho người già tuổi hơn là Nguyễn Phú Trọng ở lại trong ngôi vị TBT.

 Từ đó cuộc thay thế những quan chức thân cận với Nguyễn Tấn Dũng bắt đầu diễn ra. Đầu tiên là tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam đạị tướng Đỗ Bá Tỵ, một tướng lính kinh nghiệm trận mạc nhiều nhất cũng như chuyên môn quân sự cao nhất trong quân đội đã bị thuyên chuyển sang một chức vụ hữu danh vô thực là phó chủ tịch quốc hội. Ông Tỵ trong nhiệm kỳ của mình đã có nhiều thảo luận với bộ quốc phòng Hoa Kỳ về hợp tác quân sự đôi bên. Ông Tỵ cũng là người không có điều tiếng gì về tư cách đạo đức. Việc đưa ông xa rời quân đội vốn là chuyên môn của ông để đặt ông vào cái ghế phó chủ tịch quốc hội bù nhìn là một việc làm tồi tệ nhất của Bộ Chính Trị khoá mới.

Kế tiếp uỷ viên bộ chính trị Nguyễn Thiện Nhân, người vốn dĩ ôn hoà , có kiến thức và cũng không có những điều tiếng ở nguyên chức chủ tịch mặt trận tổ quốc Việt Nam. Nhưng sau đại hội đảng 12, một người khác là bà Trương Thị Mai trúng cử uỷ viên bộ chính trị, được cử vào đoàn chủ tịch mặt trận. Hiện tại bà Mai còn giữ chức Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương của Đảng. Trong khi ông Nhân không có chức vụ gì trong Đảng, ông chỉ giữ chức chủ tịch mặt trận tổ quốc.

 Đây cũng là lần đầu tiên ở cơ quan này có đến hai uỷ viên Bộ Chính Trị tham gia, nhưng với lợi thế là người có giữ chức vụ trong Đảng. Chắc hẳn bà Mai sẽ có nhiều ảnh hưởng trong cơ quan này hơn ông Nhân.

 Quả thực như người ta nói, ghét nhau ghét cả đường đi lối về. So sánh về trình độ và tư cách với những cá nhân khác trong Bộ Chính Trị thì việc hai ông Tỵ, và Nhân phải lép vế trong cảnh hữu danh vô thực như vậy là không công tâm. Việc điều động như này cho thấy sự nhỏ nhen của những nhóm có quyền lực chóp bu là Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh, Trần Đại Quang, Phạm Minh Chính.


Mới đây gần như toàn bộ lãnh đạo của Tây Nam Bộ bị thay thế. Đặc biệt là mô hình phát triển Phú Quốc theo những nước phát triển châu Á do thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trương, đã bị thay nhân sự chủ chốt. Ông Sơn Minh Thắng được Đinh Thế Huynh trao quyết định bổ nhiệm là phó trưởng ban chỉ đạo Tây Nam Bộ vào ngày 24 tháng 5, đến ngày 11 tháng 6 tiếp tục được Nguyễn Xuân Phúc đưa vào chiếc ghế tổ trưởng tổ nghiên cứu phát triển Phú Quốc.

 Ông Sơn Minh Thắng đã từng bị Nguyễn Tấn Dũng đưa vào chức phó chủ nhiệm uỷ ban dân tộc, một chức vụ gần như cho ngồi bỏ xó như thái tử Nông Đức Tuấn đã từng bị tương tự. Nhưng sự ra đi của Nguyễn Tấn Dũng đã khiến Sơn Minh Thắng trở lại quyền lực thực tế. Việc sử dụng Sơn Minh Thắng vào chức vụ hiện nay là đòn thâm độc của nhóm cầm quyền chóp bu. Bởi Sơn Minh Thắng mang trong lòng mối thù bị Nguyễn Tấn Dũng không trọng dụng, giờ trên cương vị mới này Thắng có thể  vì oán thù mà thưc hiện mọi chỉ đạo của nhóm chóp bu, phá tan kế hoạch của Nguyễn Tấn Dũng ở đặc khu kinh tế Phú Quốc.

Hoặc thấy không cần thiết để phá hoại kế hoạch này, Sơn Minh Thắng sẽ lãnh nhiệm vụ kiểm soát và thu hồi những nguồn lợi phát triển ở đặc khu này về tay Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư.

Ngon thì cướp, không ngon thì phá, đó là nhiệm vụ mà nhóm Nguyễn Phú Trọng giao cho Sơn Minh Thắng khi về tiếp quản Tây Nam Bộ và Phú Quốc để kiểm soát những dự án mà cha con nhà Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Thanh Nghị đã dày công xây dựng ở đây.


 Cũng trong tháng 6 này, báo chí liên tục đề cập đến việc đích thân Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo các ban ngành của Đảng, của chính phủ vào cuộc điều tra việc phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang đi xe sang biển xanh.

 Chức phó chủ tịch tỉnh theo phân cấp thì chưa đến mức trung ương quản lý, việc bổ nhiệm và xử lý chức vụ này do thủ tướng chính phủ thực hiện. Việc Nguyễn Phú Trọng nhòm ngó đến trường hợp vi phạm biển số xe, một việc hành chính để từ đó đòi truy xét việc bổ nhiệm vị phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang khiến người ta thấy  khó hiểu trước sự hăng hái thái quá của Nguyễn Phú Trọng.

 Nhưng không có gì khó hiểu, vị phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh này được bổ nhiệm có liên quan đến cựụ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trước đây Thanh từng giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị công ty xây lắp dầu khí Việt Nam, viết tắt PVC, tổng công ty này đã thua lỗ hàng ngàn tỷ. Nhưng kỳ lạ thay Thanh không hề bị nhắc nhở hoặc kỷ luật mặc dù thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đó đã chỉ đạo làm rõ trách nhiệm vụ thua lỗ. Ngay trong lúc khó khăn ấy, Thanh được chuyển đi nơi khác an toàn làm phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang.  Khó có thể nói rằng Thanh thoát được như vậy mà không có sự che chở của Nguyễn Tấn Dũng.

 Và trong cuộc truy kích, thanh trừng toàn diện nhằm vào Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng không dại gì mà bỏ qua bất cứ kẻ nào liên quan đến Dũng. Ngay cả những kẻ vô tội như Đỗ Bá Tỵ, Nguyễn Thiện Nhân còn bị hất đi vào những chỗ ngồi không, thì một kẻ có tội như Trinh Xuân Thanh lẽ nào Nguyễn Phú Trọng bỏ qua. Dù Thanh có là con tép riu không đáng Trọng phải thân chinh mang chức Tổng Bí Thư Đảng ra xử lý, nhưng một khi đã dây dưa với kẻ thù thì kể cả con ruồi cũng bất chấp ngôi vị Tổng Bí Thư để xắn tay áo vác dao mổ bò truy sát.

 Qua những sự việc lên quan đến các cá nhân trên, cho thấy sự thù hận của Nguyễn Phú Trọng với Nguyễn Tấn Dũng cực kỳ khủng khiếp. Sự thù hận này ám ảnh Nguyễn Phú Trọng đến mức suốt cả nhiệm kỳ trước lẫn nhiệm kỳ này, Trọng chỉ nhăm nhăn thực hiện những biện pháp để triệt hạ Dũng bằng được.  Đến mức khi Dũng đã thất thế về hưu, im lặng và tỏ vẻ vô hại như Dũng đi chùa, đi bộ tới nơi bầu cử...Trọng vẫn quyết không tha.

Không những thế, những cây bút của phe Trọng , Huynh , Quang liên tục đưa ra những bài viết quy kết những sai trái và thủ đoạn của Nguyễn Tấn Dũng khi còn tại vị. Đó là một cuộc phối hợp trong ngoài mà phe Trọng vạch ra. Một đằng bên trong truy kích gắt gao, một đằng bên ngoài vận động dư luận đồng tình với việc triệt Dũng tận cùng.

 Có lẽ không phải Nguyễn Bá Thanh chết vì tay Nguyễn Tấn Dũng như thiên hạ từng nghĩ. Bởi nếu Dũng có làm được chuyện đấy, ông ta khó mà để Trọng truy kích mình đến tận bây giờ trên mọi mặt trận như vậy.

 Nguyễn Bá Thanh lúc đương thời làm trưởng ban nôi chính trung ương, ông ta thể hiện kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, nhưng ông ta cũng cho thấy mình là con ngựa bất kham trong việc thực hiện đường lối kinh tế, ngoại giao bảo thủ của tư tưởng chủ nghĩa xã hội. Giả sử nếu ông Thanh còn sống và là uỷ viên bộ chính trị bây giờ, liệu đường lối  và chủ trương của Đảng CSVN ngày nay có được êm ả hay không, khi mà chủ quyền, kinh tế, môi trường đều ở trong mức độ thảm hoạ.? Hay ông ta sẽ có những phát biểu, tư duy, chỉ đạo khiến một lũ bất tài và hèn nhát trong Bộ Chính Trị của Nguyễn Phú Trọng bây giờ phải ê mặt.

 Cái chết của ông Thanh có lợi cho Nguyễn Tấn Dũng lúc đó, nhưng cũng là cái lợi lâu dài của Nguyễn Phú Trọng sau này. Tuy nhiên cũng không vì thế mà kết luận, phe nhóm tay chân của Trọng như Trần Đại Quang đã ra tay hạ sát ông Thanh để trừ hậu hoạ, giữ sự ổn định trong Đảng lâu dài. Cũng khó có thể cho rằng Nguyễn Tấn Dũng đã ra tay hạ sát Nguyễn Bá Thanh. Bởi nếu Dũng làm được điều đó thì lẽ ra cần làm điều dứt điểm hơn là hạ sát Nguyễn Phú Trọng để chấm dứt  nguồn gốc sự truy kích.

 Cuộc truy kích lần này liệu có giữ tiền lệ không truy tố uỷ viên bộ chính trị , hay sẽ phá lệ đưa nguyên thủ ra vành móng ngựa để hạ nhục triệt để. ?

Điều đó thì còn phải chờ xem.

Bùi Thanh Hiếu

(Blog Người Buôn Gió)

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

1- Đại học Fulbright (FUV) và sự lạc hướng của dư luận.
2- Ngày 15/05/2016, Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ John Kerry đã có chuyến sang thăm và làm việc với phía Việt Nam, chuẩn bị cho chuyến thăm của tổng thống OBAMA, ngày 22/05/2016.
3- Ngoài ba nội dung được tập trung quan tâm là việc đối phó với xung đột Biển Đông, việc gỡ bỏ lệnh cấm vận và việc phê chuẩn TPP, có hai nội dung đặc biệt, nhưng báo chí chỉ đưa lướt qua, không kèm bình luận, khiến dư luận không quan tâm. Đó là Hiệp định khung cho chương trình Hoà Bình và Quyết định thành lập Fulbright Việt Nam. Hai nội dung này là kết quả những đàm phán dai dẳng suốt hai mươi năm bình thường hóa quan hệ, được coi là những bước triển khai cụ thể của chương trình phát triển quan hệ hợp tác hai nước, bắt đầu những bước đi thực chất, phản ánh việc gạt bỏ những nghi ngại cuối cùng của Hà Nội đối với Mỹ.
Bob Kerrey và John Kerry ở TP New York. Ảnh: internet
Bob Kerrey và John Kerry ở TP New York.
Ảnh: internet
4- Sau đó một ngày, ngày 16 tháng 5 năm 2016, Trường Đại học Fulbright Việt Nam đã chính thức nhận quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ theo quyết định số 819/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ký.
5- Một ngày sau khi tổng thống Obama tới Hà nội và tuyên bố gỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương, sáng 24.5/2016, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã chứng kiến lễ ký kết Hiệp định khung cho chương trình Hoà bình, về việc VN đồng ý cho phép tình nguyện viên Mỹ của Peace Corps dạy tiếng Anh tại TP.Hà Nội và TP.HCM như những sứ giả đầu tiên trong Chương trình hòa bình Việt –Mỹ.
Và sáng ngày 25/5/2016, dưới sự chứng kiến của cả John Kerry và Bí thư Đinh La Thăng, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong đã trao quyết định thành lập Trường ĐH Fulbright VN(FUV) cho Chủ tịch Hội đồng tín thác FUV Bob Kerrey, trường Đại học tư thục Việt Nam đầu tiên được tổ chức theo mô thức độc lập tài chính phi lợi nhuận và độc lập về nội dung giảng dạy theo các chuẩn mực quốc tế cao nhất.
Quyết định bổ nhiệm ông Bob Kerrey, nguyên cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, nguyên tác giả của vụ thảm sát Thạnh Phong vào tháng 2-1969, nguyên thượng nghị sỹ bang Nebraska, nguyên hiệu trưởng trường New School, NewYork làm Chủ tịch Hội đồng tín thác FUV đã gây tranh cãi. Ở phía ủng hộ, có cả trăm ý kiến cá nhân, phần lớn là những trí thức có uy tín, như Giáo sư Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà giáo Phạm Thị Ly, sử gia Dương Trung Quốc, GS Nguyễn Minh Thuyết… còn nếu xem trên Facebook thì có hàng ngàn ý kiến từ nhiều góc nhìn, của rất nhiều tầng lớp quần chúng khác nhau. 
Phía phản đối ông BOB Kerrey ngược lại, chỉ có vài người, là bà Tôn Nữ Thị Ninh và ông nhà văn Nguyễn Văn Thọ. Ông Thọ sau khi lỡ lời, mặc dù không cải chính, không thấy ông nói gì thêm. Nhưng người ta thấy lạ một điều là sau cái bài viết với giọng khiêu khích, Lẽ nào nước Mỹ không còn ai ngoài Bob Kerrey?, bà Ninh lại phóng tiếp bức “Thư ngỏ gửi người Việt Nam và những người bạn Mỹ”, trong đó người ta bảo là bà bịa ra cái thông tin rằng số tiền 20 triệu đôla tiền vốn ban đầu của FUV “là món tiền chính quyền Sài Gòn nợ chính quyền Hoa Kỳ trước 1975 (?), mà nhà nước CHXHCN Việt Nam thống nhất nhận trả phía Mỹ theo thông lệ quốc tế (?). Nói cách khác, thực chất đây là việc chuyển một món tiền có sẵn – từ mục đích cấp học bổng hàng năm sang mục đích tài trợ ban đầu cho FUV – chứ không phải do Bob Kerrey mới gây quỹ đặc biệt cho FUV”.
BáoVnexpress.net bác bỏ: “Hồi tháng 6/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng ý chủ trương đầu tư dự án FUV. Tháng 12/2014, Quốc hội Mỹ phê chuẩn thành luật, cho phép chính phủ Mỹ tài trợ khoảng 20 triệu USD cho dự án FUV trong giai đoạn đầu tiên”, còn chính Bob Kerrey thì nói: “Năm ngoái, nỗ lực của chúng tôi đã thành công khi Quốc hội quyết định tài trợ một khoản gần 20 triệu USD để xây dựng FUV, còn phía chính phủ Việt Nam dành cho trường khu đất. ”
Sau khi ông Đinh La Thăng, uỷ viên bộ chính trị, bí thư Sài Gòn, có ý dẹp dư luận bằng ý kiến “vượt lên hận thù chúng ta mạnh mẽ hơn”, đặc biệt là đối diện với sự khiêu khích lộ liễu của bà Ninh, ngày 07/06/2016, tại New York, ông Bob Kerrey đã công bố quyết định không từ chức. Dư luận không còn ai nói tới chuyện chọn hay không chọn. Riêng bà Tôn Nữ Thị Ninh vẫn tiếp tục bị dư luận ném đá, thậm chí không chỉ có đá mà còn cả cà chua thối.
Có lẽ không có gì “dại” hơn những gì bà Tôn Nữ Thị Ninh đã làm. Không ai hiểu tại sao bà công khai và đích danh công kích cá nhân ông Bob Kerrey, và cái khó hiểu nhất là bà lại nhân danh lòng “nhân ái và danh dự trí thức”, cái mà ở chính bà, người ta đã thấy là thiếu nhất.
Người ta đã chứng kiến ở bà một trí thức săn đuổi địa vị và tìm kiếm vinh quang như thế nào. Từ một lưu học sinh của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, không biết bằng cách nào, bà được tuyển dụng làm phiên dịch viên cho nguyên bộ trưởng ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình tại hội nghị Paris. Rồi từ một Phó Khoa của Phân khoa Anh ngữ, Đại học Sư phạm Sài Gòn năm 1972, bà lọt vào mắt ông Xuân Thuỷ, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Bắc Việt, để rồi sau đó có thể trở thành một đại sứ đặc mệnh toàn quyền của chính phủ Việt Nam XHCN tại Bỉ, bên cạnh Liên Hiệp châu Âu. Với lòng “tự trọng danh dự trí thức”, bà đã có thể chiếm được sự tin cậy của cả hai chế độ đối kháng không đội chung trời của nhau, mà không bị gọi là tráo trở.
Khi tự cho mình quyền nhân danh lòng nhân đạo để nói “Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết. Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ”, bà đã buộc người ta phải hỏi lại bà rằng: nếu thảm sát là một vụ gây ra nhiều cái chết oan uổng cho những người vô tội, thì cho dù không thể phủ nhận tội lỗi của mình, Bob có thể chỉ là kẻ bị lừa. Những thủ lĩnh cộng sản đã đẩy dân ra phía trước để lãnh đạn cho họ, như chính nhà văn Nguyên Ngọc thú nhận “chúng tôi vẫn từng ‘nấp’ trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi” (thực ra ông muốn nói rằng “để họ chết thay cho chúng tôi”), cách mạng vẫn dùng dân như một lá chắn, vừa làm bia đỡ đạn sống cho cách mạng vừa lấy cớ buộc tội đối phương.
Bà không thể im lặng để chối bỏ một sự thật, rằng không có cuộc thảm sát nào lớn hơn cuộc cải cách ruộng đất mà chính quyền cộng sản tiến hành suốt những năm 1954-1956, khiến 172.008 bị giết oan uổng một cách thô bạo. Không có cuộc thảm sát nào lớn hơn là cuộc tổng tấn công mậu thân 1968, chính quyền cộng sản cố tình đẩy 277.000 người vô tội vào một cuộc thử nghiệm đẫm máu, khiến 44.842 chết, 61.267 bị thương, 4.511 mất tích. Và lớn hơn, cuộc chiến tranh hai miền đã khiến người Việt giết lẫn nhau suốt 30 năm làm cho hơn 6 triệu người chết, trong đó hơn 4 triệu dân thường. Ai đã gây ra vụ thảm sát nồi da nấu thịt đó? Người Mỹ không đến để chiếm đất Việt nam. Người Mỹ chỉ đến để chiến đấu cùng với một nửa người Việt vì một “nỗi lo sợ cộng sản” *.
Cá chết trắng một dải bờ biển từ Hà Tĩnh tới Thừa Thiên Huế, đe doạ thảm họa cho hàng triệu con người đói khát vô tội, mất nghề nghiệp, mất nguồn sống, bà và những trí thức như bà đang ở đâu, sao không thấy bà lên giọng “cao thượng” để giúp đỡ những người không có phương tiện gì ngoài tiếng nói, xuống đường ôn hoà chỉ để đòi quyền được biết, quyền được sống trong sạch, vẫn bị chính quyền đàn áp không thương tiếcbất chấp cả phụ nữ và trẻ em. Lịch sử sẽ có lúc quay lại để phán xét.
Khi bà công kích đích danh ông BOB, khích ông BOB từ chức Chủ tịch Hội đồng tín thác vì “danh dự và lòng tự trọng” và khi bà đặt ra câu hỏi “chẳng nhẽ nước Mỹ không còn ai ngoài BOB Kerrey”, hình như bà muốn nhắc mọi người rằng, tại sao không ai thấy sự có mặt của bà, bà thừa sức thay thế ông BOB?.
Bà từng là nhà giáo, từng là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Bỉ bên cạnh Liên hiệp châu Âu, từng làm trưởng ban đối ngoại Quốc hội, bà từng là chủ tịch hội đồng quản trị dự án Đại học tư thục Trí Việt. Nhưng khi còn chưa đã cơn khát vinh quang thì buộc phải về hưu, bà uất ức, cay đắng: « quy định tuổi nghỉ hưu 55 như hiện nay, chị em chưa kịp cất cánh thì đã phải hạ cánh». Bà đang còn muốn bay.
Năm 2007, nghỉ hưu, bà lập ra dự ań Đại học Trí Việt, với nung nấu trở thành chủ tịch Đại học tư thục đầu tiên của nền giáo dục Việt. Nhưng sự thèm khát vinh quang đã làm cho bạn bè và đồng nghiệp của bà hoảng sợ. Bốn năm vận động, bà không xin được đất, không một cá nhân, một cơ quan tổ chức nào, cả trong nước lẫn quốc tế chịu góp vốn. Bà đành chấp nhận thất bại , buộc phải giải tán hội đồng sáng lập và tuyên bố huỷ bỏ Dự ań. Tuy vậy, “tâm huyết” của bà với nền Đại học Việt vẫn chưa tắt trong con người bà. Bà liếc sang Fulbright với cả sự thèm khát và ganh ghét. Đã có lúc người ta nghĩ đến bà, có một vài người Mỹ bạn quen cũ đã góp lời . Nhưng có vẻ như người Mỹ đã hoảng sợ sau khi nghe lời tuyên bố của bà tại buổi họp báo Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 2004.
« Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi »
Họ hoảng sợ là đúng,vì nếu bà là chủ tịch Đại học thì những quan chức do bà đào tạo ra sẽ chỉ là những quan phụ mẫu, coi dân như con cái trong nhà hết, và nếu chúng hư đốn thì phải đóng cửa lại mà trừng trị. Bà là một đặc trưng của tư tưởng chuyên chếphong kiến, của thứ tư duy kiểu nhân quyền xã hội chủ nghĩa. Bà sẽ là kẻ phá hoại đáng sợ nhất, phản bội lại tư tưởng giáo dục và đào tạo độc lập của Fulbright. BOB và những người bạn của ông, thượng nghị sỹ John McCain, bộ trưởng ngoại giao John Kerry, GSThomas J. Valelly theo đuổi Dự án từ hơn hai mươi năm đương nhiên không phải để tạo ra những quan lại có tư tưởng nô lệ cho quyền lực, của thèm khát chức vị và hư danh.
Sự thất bại của bà Tôn Nữ Thị Ninh trước dư luận cho thấy một thái độ của trí thức Việt không còn như trước. Những kẻ chuyên kinh doanh lòng trung thành với chế độ và buôn bán lập trường đã không còn che được mắt xã hội, và không còn kiếm lời được nưã.
*
Nhưng nếu sự kiện ra đời của FUV lại chuyển đổi thành sự cãi lộn xung quanh chuyện danh dự hay cao thượng của bà Ninh thì dư luận đã lạc hướng.
Ít ra người ta cũng tự hỏi, những việc này chỉ đơn thuần là động cơ cá nhân bà Ninh hay phía sau bà có thế lực nào.Vietnamnet.vn là tờ báo duy nhất đăng tải cả hai lần, hai bài viết ngược dòng cuả̉ bà Ninh, có phải là tình cờ hay có sự chỉ đạo của ai. Sau vài ngày, bài viết đầu bị xóa, nhưng bài “thư ngỏ” được giữ lại muộn hơn, và hiện cũng chỉ còn trên các báo mạng khác, Vietnamnet.vn cũng đã gỡ nốt.
Từ sau khi tổng biên tập Nguyễn Anh Tuấn phải buộc ra đi sau một loạt phóng sự điều tra đất rừng đầu nguồn dính đến Innov Green Hồng Kông, Vietnamnet.vn hiện nay không khác gìVnexpresse.net, nghĩa là chỉ là cái loa không hồn, không đầu. Nếu sự thật phía sau, là Vietnamnet.vn đã bị điều khiển bởi một bàn tay nào đó, thì hiển nhiên bàn tay đó thân Trung Quốc. Và chuyện bà Ninh chỉ là chuyện phá thối.
Bắt đầu từ quỹ học bổng Fulbright do thượng nghị sỹ, cưụ chiến binh John Kerry vận động. Bước đột phá đầu tiên của nỗ lực này là trong dự luật ngân sách 1991 khi lần đầu tiên 300 ngàn USD để cấp học bổng cho sinh viên VN (Harvard sau đó góp thêm 300 ngàn USD) được đưa vào. Đột phá được thực hiện bởi John Kerry cùng cùng với sự hỗ trợ của các cựu binh như John McCain, Richard Kessler,…
Năm 1992, chương trình học bổng Fulbright, dưới sự dẫn dắt của Thomas Vallely – một cựu binh Việt Nam khác – bắt đầu đi vào hoạt động. Từ số tiền này, những nhóm sinh viên đầu tiên của chương trình Fulbright như Phạm Bình Minh, Nguyễn Thiện Nhân, Cao Đức Phát, …đã được đưa sang Mỹ để học tại những ĐH hàng đầu.
Fulbright trở thành một Dự án Đại học tư thục Việt Nam từ năm 1994 kết quả của sự hợp tác giưã Trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh và Trường Havard Kennedy. Ngân sách do Vụ Giáo dục và văn hoá bộ Ngoại giao Mỹ tài trợ. Trong thời gian vận động để có giấy phép đầu tư chính thức, dự án có tên là Chương Trình Giảng Dạy Kinh Tế Fullbright, đã hoạt động hơn 12 năm trong lĩnh vực Giáo dục và đào tạo. Hiện đang được điều hành bởi Ô/B Benjamin Haxton Wilkinson, có địa điểm tại địa chỉ: 232/6 Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Dự án là một trong những nội dung được bàn thảo trong các hoạt động chuẩn bị cho việc lý kết Hiệp định đối tác toàn diện Việt Mỹ trong chuyến thăm chính thức của chủ tịch Trương Tấn Sang năm 2013. Dự án tiếp tục được ủng hộ và có những cố gắng rất lớn từ cả hai chính phủ, đặc biệt là bộ ngoại giao hai nước. Những rào cản thiếu sự thông hiểu từ phía chính phủ Việt Nam chính là nguyên tắc độc lập về tài chính, độc lập về nội dung giảng dạy và đào tạo trên nền tảng giáo dục khai phóng. Những môn học chính được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh. Giáo trình là sự kết hợp với phương pháp giảng dạy theo nhóm giảng viên, không theo giáo trình cố định, soạn sẵn. Tuy nhiên, tất cả những trở ngại đã được vượt qua trong chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tháng 7/2015, sau khi Quốc hội Mỹ đồng ý tài trợ khoảng 20 triệu đôla, tháng 4/2014.
Giấy phép Đại học Fulbright Việt nam được cấp ngày 16/05/2016.
Quyết định thàng lập Đại học Tư thục phi lợi nhuận Fulbright Việt Nam được trao cho cựu Thượng nghị sỹ BOB Kerrey ngày 25/05/2016 trong chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Mỹ OBAMA, tại TP Hồ Chí Minh. FUV có trụ sở chính tại Khu công nghệ cao TP.HCM với diện tích đất 15 ha, là trường Đại học do Quỹ tín thác sáng kiến ĐH Việt Nam (TUIV) đầu tư bằng 100% vốn nước ngoài.
Theo chương trình FUV sẽ là một trung tâm giáo dục đào tạo đạt chuẩn quốc tế đầu tiên tại khu vực Đông nam Á theo mô hình khai phóng mở còn rất mới đối với thế giới.
Tuy vậy, bên cạnh những hy vọng tràn trề, những người mắc bệnh hoài nghi vẫn mơ hồ một điều gì đấy, hình như không có thật, hay một cái gì quá tốt đẹp đã đến một cách vội vã, vưà như một phép mầu, vưà mong manh dễ vỡ.
Nhất là khi bên cạnh nhhững cái tên Mỹ, như BOB Kerrey, Thomas Vallely…lại cónhững cái tên gây thắc mắc không có lời giải đáp, chẳng hạn như Henry Nguyễn Bảo Hoàng, con rể nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, giữ chức phó chủ tịch hội đồng tín thác, tức là nhân vật thứ hai sau Bob Kerrey, cùng với sự có mặt của Nguyễn Thanh Phượng trong lễ trao quyết định thành lập FUV ngày 25/05/2016, không khỏi gây lo sợ cho dư luận. Sự có mặt của cha con ông Dũng luôn gắn với sự lũng đoạn của âm mưu và lòng tham. Tại sao, một con người, một gia đình thuộc loại vơ bèo vạt tép, không cái gì ăn được mà không ăn, không cái gì có lãi mà không đầu tư, lại không buông tha cả cái trường Đại học tư thục phi lợi nhuận Fulbright? Họ rưả tiền? Họ rót tiền bất chính vào Fulbright để nhân danh từ thiện, khoác lên những đồng tiền nhem nhuốc của họ một thứ danh nghĩa sạch sẽ? Hay họ đã hết thời làm mưa làm gíó, đang đi tìm chỗ trú thân? Dù là gì thì khi Fulbright đi với đi với ma, người ta phải hỏi liệu chiếc áo mà FUV sẽ khoác, có phải là áo giấy? Tiền của Quỹ đầu tư Bản Việt, mà Nguyễn Thanh Phượng là Chủ tịch sẽ từ từ mua hết cổ phần của FUV, và Henry Nguyễn Bảo Hoàng sẽ trở thành Chủ tịch Hội đồng Tín thác. Trường Đại Học Fulbright đổi tên thành Trường Thanh Phượng?!.
Một cái tên khác nưã là Đàm Bích Thuỷ, nguyên Tổng Giám đốc Tập đoàn ANZ, có tên trong danh sách Hồ sơ Panama, đang đảm nhiệm chức Hiệu trưởng FUV.
Một nhà buôn tham lam Nguyễn Bảo Hoàng sẽ phụ trách việc gây quỹ, một chủ ngành ngân hàng có tài xoay tiền Đàm Bích Thuỷ làm công việc giáo dục và đào tạo. Khó có thể tiên liệu tương lai của FUV. Nếu ở chỗ nào cũng có mặt mafia và nếu mafia đã trở thành một bộ phận hữu cơ của chế độ, thì một định chế không mafia sẽ tất yếu sụp đổ?
Cùng với việc ký kết Hiệp định TPP, phát triển liên kết Quốc phòng sau dỡ bỏ cấm vận vũ khí,Peace Corps và FUV được xem là hai mũi nhọn đầu tiên, thâm nhập vào môi trường xã hội Việt Nam.
Việc chính thức cho ra đời hai định chế này, một mặt phản ánh những nghi ngại của Hà Nội quan niệm Mỹ như một thể chế chính trị đối kháng, như kẻ thù của chế độ có thể đã được gỡ bỏ, một mặt khác, sự nhượng bộ của chính quyền Hà Nội phản ánh xu hướng chấp nhận một sự chuyển hóa cơ cấu xã hội từ bên trong.
Đây có thể là một giai đoạn chuyển tiếp, một dạng quá độ đầy mâu thuẫn và đầy trở ngại, nhưng chứa đựng những mầm mống thay đổi căn bản?
Quá trình sáp lại gần nhau đầy nghi kị để đạt tới hợp tác toàn diện hôm nay và đang hiện hình một hợp tác đối tác chiến lược có thể trong tương lai không xa cho thấy một vài cảm nhận :
1- Chính quyền Mỹ dù khác về bản chất thể chế chính trị, không còn là đối tượng thù địch. Trong khi vẫn còn là nhân tố nghi ngại cho sự tồn vong của chế độ độc đảng, Mỹ là nhân tố quyết định tới chủ quyền quốc gia, tới phát triển thịnh vượng và văn minh xã hội.
2- Không có phe thân Trung Quốc trong nội bộ Đ̣ảng cộng sản từ sau đại hội XII.
3- Chính sách cân bằng Trung – Mỹ chủ yếu nhằm mục đích tránh một khủng hoảng có tính khủng bố và áp lực xung đột chiến tranh cục bộ đến từ Bắc Kinh, trong khi Hà Nội chưa chuẩn bị kịp các điều kiện đối phó cần thiết, không phải là chính sách vì sự duy trì thân thiện.
4- Hiện trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam chỉ còn hai quan điểm khác nhau, quan điểm tự nguyện cải cách theo hướng dân chủ hoá từng bước; và quan điểm tiếp tục duy trì chế độ độc đảng bằng cách tận dụng mọi cơ hội để tăng trưởng kinh tế.
Quan điểm tự nguyện cải cách ủng hộ hoàn toàn các quyết định ký kết TPP, quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí, quyết định ký kết Hiệp định khung cho chương trình Hoà Bình Việt Mỹ, và quyết định thành lập Đại học FUV. Lực lượng này xem các định chế trên như những công cụ giúp xã hội Việt Nam thay đổi dần từng bước từ bên trong.
Ngược lại, quan điểm duy trì chế độ độc đảng tố cáo các định chế trên là công cụ diễn biến hoà bình, là vũ khí của chủ nghĩa tư bản Mỹ nhằm xoá bỏ chế độ cộng sản, tước bỏ thành quả của cách mạng vô sản Việt Nam, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Lực lượng này, đương nhiên là những nhân vật giáo điều, bảo thủ trong đảng, trung thành mù quáng với tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin. Lực lượng này buộc phải bám víu vào Trung Quốc và không tránh được bị Trung Quốc lợi dụng.
Dù bề ngoài, người ta đang cố sức che đậy những khuyết tật, cố dựng lên một hình hài đồ sộ và màu mè, nhưng không có cách gì che chắn được những đổ vỡ. Cuộc bầu cử quốc hội XIV đã thất bại, một số các cơ cấu của Quốc hội sẽ buộc phải chắp vá. Đảng viên đang bỏ đảng và từ chối sinh hoạt với con số tăng lên từng ngày. Những sạt lở từng mảng không thể chống đỡ đang bắt đầu.Những người còn chút tỉnh táo, khôn ngoan chắc cũng tự tìm ra cách hành xử thích ứng.
Bùi Quang Vơm
(Ba Sàm)
23:30 Unknown
1- Đại học Fulbright (FUV) và sự lạc hướng của dư luận.
2- Ngày 15/05/2016, Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ John Kerry đã có chuyến sang thăm và làm việc với phía Việt Nam, chuẩn bị cho chuyến thăm của tổng thống OBAMA, ngày 22/05/2016.
3- Ngoài ba nội dung được tập trung quan tâm là việc đối phó với xung đột Biển Đông, việc gỡ bỏ lệnh cấm vận và việc phê chuẩn TPP, có hai nội dung đặc biệt, nhưng báo chí chỉ đưa lướt qua, không kèm bình luận, khiến dư luận không quan tâm. Đó là Hiệp định khung cho chương trình Hoà Bình và Quyết định thành lập Fulbright Việt Nam. Hai nội dung này là kết quả những đàm phán dai dẳng suốt hai mươi năm bình thường hóa quan hệ, được coi là những bước triển khai cụ thể của chương trình phát triển quan hệ hợp tác hai nước, bắt đầu những bước đi thực chất, phản ánh việc gạt bỏ những nghi ngại cuối cùng của Hà Nội đối với Mỹ.
Bob Kerrey và John Kerry ở TP New York. Ảnh: internet
Bob Kerrey và John Kerry ở TP New York.
Ảnh: internet
4- Sau đó một ngày, ngày 16 tháng 5 năm 2016, Trường Đại học Fulbright Việt Nam đã chính thức nhận quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ theo quyết định số 819/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ký.
5- Một ngày sau khi tổng thống Obama tới Hà nội và tuyên bố gỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương, sáng 24.5/2016, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã chứng kiến lễ ký kết Hiệp định khung cho chương trình Hoà bình, về việc VN đồng ý cho phép tình nguyện viên Mỹ của Peace Corps dạy tiếng Anh tại TP.Hà Nội và TP.HCM như những sứ giả đầu tiên trong Chương trình hòa bình Việt –Mỹ.
Và sáng ngày 25/5/2016, dưới sự chứng kiến của cả John Kerry và Bí thư Đinh La Thăng, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong đã trao quyết định thành lập Trường ĐH Fulbright VN(FUV) cho Chủ tịch Hội đồng tín thác FUV Bob Kerrey, trường Đại học tư thục Việt Nam đầu tiên được tổ chức theo mô thức độc lập tài chính phi lợi nhuận và độc lập về nội dung giảng dạy theo các chuẩn mực quốc tế cao nhất.
Quyết định bổ nhiệm ông Bob Kerrey, nguyên cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, nguyên tác giả của vụ thảm sát Thạnh Phong vào tháng 2-1969, nguyên thượng nghị sỹ bang Nebraska, nguyên hiệu trưởng trường New School, NewYork làm Chủ tịch Hội đồng tín thác FUV đã gây tranh cãi. Ở phía ủng hộ, có cả trăm ý kiến cá nhân, phần lớn là những trí thức có uy tín, như Giáo sư Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà giáo Phạm Thị Ly, sử gia Dương Trung Quốc, GS Nguyễn Minh Thuyết… còn nếu xem trên Facebook thì có hàng ngàn ý kiến từ nhiều góc nhìn, của rất nhiều tầng lớp quần chúng khác nhau. 
Phía phản đối ông BOB Kerrey ngược lại, chỉ có vài người, là bà Tôn Nữ Thị Ninh và ông nhà văn Nguyễn Văn Thọ. Ông Thọ sau khi lỡ lời, mặc dù không cải chính, không thấy ông nói gì thêm. Nhưng người ta thấy lạ một điều là sau cái bài viết với giọng khiêu khích, Lẽ nào nước Mỹ không còn ai ngoài Bob Kerrey?, bà Ninh lại phóng tiếp bức “Thư ngỏ gửi người Việt Nam và những người bạn Mỹ”, trong đó người ta bảo là bà bịa ra cái thông tin rằng số tiền 20 triệu đôla tiền vốn ban đầu của FUV “là món tiền chính quyền Sài Gòn nợ chính quyền Hoa Kỳ trước 1975 (?), mà nhà nước CHXHCN Việt Nam thống nhất nhận trả phía Mỹ theo thông lệ quốc tế (?). Nói cách khác, thực chất đây là việc chuyển một món tiền có sẵn – từ mục đích cấp học bổng hàng năm sang mục đích tài trợ ban đầu cho FUV – chứ không phải do Bob Kerrey mới gây quỹ đặc biệt cho FUV”.
BáoVnexpress.net bác bỏ: “Hồi tháng 6/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng ý chủ trương đầu tư dự án FUV. Tháng 12/2014, Quốc hội Mỹ phê chuẩn thành luật, cho phép chính phủ Mỹ tài trợ khoảng 20 triệu USD cho dự án FUV trong giai đoạn đầu tiên”, còn chính Bob Kerrey thì nói: “Năm ngoái, nỗ lực của chúng tôi đã thành công khi Quốc hội quyết định tài trợ một khoản gần 20 triệu USD để xây dựng FUV, còn phía chính phủ Việt Nam dành cho trường khu đất. ”
Sau khi ông Đinh La Thăng, uỷ viên bộ chính trị, bí thư Sài Gòn, có ý dẹp dư luận bằng ý kiến “vượt lên hận thù chúng ta mạnh mẽ hơn”, đặc biệt là đối diện với sự khiêu khích lộ liễu của bà Ninh, ngày 07/06/2016, tại New York, ông Bob Kerrey đã công bố quyết định không từ chức. Dư luận không còn ai nói tới chuyện chọn hay không chọn. Riêng bà Tôn Nữ Thị Ninh vẫn tiếp tục bị dư luận ném đá, thậm chí không chỉ có đá mà còn cả cà chua thối.
Có lẽ không có gì “dại” hơn những gì bà Tôn Nữ Thị Ninh đã làm. Không ai hiểu tại sao bà công khai và đích danh công kích cá nhân ông Bob Kerrey, và cái khó hiểu nhất là bà lại nhân danh lòng “nhân ái và danh dự trí thức”, cái mà ở chính bà, người ta đã thấy là thiếu nhất.
Người ta đã chứng kiến ở bà một trí thức săn đuổi địa vị và tìm kiếm vinh quang như thế nào. Từ một lưu học sinh của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, không biết bằng cách nào, bà được tuyển dụng làm phiên dịch viên cho nguyên bộ trưởng ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình tại hội nghị Paris. Rồi từ một Phó Khoa của Phân khoa Anh ngữ, Đại học Sư phạm Sài Gòn năm 1972, bà lọt vào mắt ông Xuân Thuỷ, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Bắc Việt, để rồi sau đó có thể trở thành một đại sứ đặc mệnh toàn quyền của chính phủ Việt Nam XHCN tại Bỉ, bên cạnh Liên Hiệp châu Âu. Với lòng “tự trọng danh dự trí thức”, bà đã có thể chiếm được sự tin cậy của cả hai chế độ đối kháng không đội chung trời của nhau, mà không bị gọi là tráo trở.
Khi tự cho mình quyền nhân danh lòng nhân đạo để nói “Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết. Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ”, bà đã buộc người ta phải hỏi lại bà rằng: nếu thảm sát là một vụ gây ra nhiều cái chết oan uổng cho những người vô tội, thì cho dù không thể phủ nhận tội lỗi của mình, Bob có thể chỉ là kẻ bị lừa. Những thủ lĩnh cộng sản đã đẩy dân ra phía trước để lãnh đạn cho họ, như chính nhà văn Nguyên Ngọc thú nhận “chúng tôi vẫn từng ‘nấp’ trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi” (thực ra ông muốn nói rằng “để họ chết thay cho chúng tôi”), cách mạng vẫn dùng dân như một lá chắn, vừa làm bia đỡ đạn sống cho cách mạng vừa lấy cớ buộc tội đối phương.
Bà không thể im lặng để chối bỏ một sự thật, rằng không có cuộc thảm sát nào lớn hơn cuộc cải cách ruộng đất mà chính quyền cộng sản tiến hành suốt những năm 1954-1956, khiến 172.008 bị giết oan uổng một cách thô bạo. Không có cuộc thảm sát nào lớn hơn là cuộc tổng tấn công mậu thân 1968, chính quyền cộng sản cố tình đẩy 277.000 người vô tội vào một cuộc thử nghiệm đẫm máu, khiến 44.842 chết, 61.267 bị thương, 4.511 mất tích. Và lớn hơn, cuộc chiến tranh hai miền đã khiến người Việt giết lẫn nhau suốt 30 năm làm cho hơn 6 triệu người chết, trong đó hơn 4 triệu dân thường. Ai đã gây ra vụ thảm sát nồi da nấu thịt đó? Người Mỹ không đến để chiếm đất Việt nam. Người Mỹ chỉ đến để chiến đấu cùng với một nửa người Việt vì một “nỗi lo sợ cộng sản” *.
Cá chết trắng một dải bờ biển từ Hà Tĩnh tới Thừa Thiên Huế, đe doạ thảm họa cho hàng triệu con người đói khát vô tội, mất nghề nghiệp, mất nguồn sống, bà và những trí thức như bà đang ở đâu, sao không thấy bà lên giọng “cao thượng” để giúp đỡ những người không có phương tiện gì ngoài tiếng nói, xuống đường ôn hoà chỉ để đòi quyền được biết, quyền được sống trong sạch, vẫn bị chính quyền đàn áp không thương tiếcbất chấp cả phụ nữ và trẻ em. Lịch sử sẽ có lúc quay lại để phán xét.
Khi bà công kích đích danh ông BOB, khích ông BOB từ chức Chủ tịch Hội đồng tín thác vì “danh dự và lòng tự trọng” và khi bà đặt ra câu hỏi “chẳng nhẽ nước Mỹ không còn ai ngoài BOB Kerrey”, hình như bà muốn nhắc mọi người rằng, tại sao không ai thấy sự có mặt của bà, bà thừa sức thay thế ông BOB?.
Bà từng là nhà giáo, từng là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Bỉ bên cạnh Liên hiệp châu Âu, từng làm trưởng ban đối ngoại Quốc hội, bà từng là chủ tịch hội đồng quản trị dự án Đại học tư thục Trí Việt. Nhưng khi còn chưa đã cơn khát vinh quang thì buộc phải về hưu, bà uất ức, cay đắng: « quy định tuổi nghỉ hưu 55 như hiện nay, chị em chưa kịp cất cánh thì đã phải hạ cánh». Bà đang còn muốn bay.
Năm 2007, nghỉ hưu, bà lập ra dự ań Đại học Trí Việt, với nung nấu trở thành chủ tịch Đại học tư thục đầu tiên của nền giáo dục Việt. Nhưng sự thèm khát vinh quang đã làm cho bạn bè và đồng nghiệp của bà hoảng sợ. Bốn năm vận động, bà không xin được đất, không một cá nhân, một cơ quan tổ chức nào, cả trong nước lẫn quốc tế chịu góp vốn. Bà đành chấp nhận thất bại , buộc phải giải tán hội đồng sáng lập và tuyên bố huỷ bỏ Dự ań. Tuy vậy, “tâm huyết” của bà với nền Đại học Việt vẫn chưa tắt trong con người bà. Bà liếc sang Fulbright với cả sự thèm khát và ganh ghét. Đã có lúc người ta nghĩ đến bà, có một vài người Mỹ bạn quen cũ đã góp lời . Nhưng có vẻ như người Mỹ đã hoảng sợ sau khi nghe lời tuyên bố của bà tại buổi họp báo Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 2004.
« Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi »
Họ hoảng sợ là đúng,vì nếu bà là chủ tịch Đại học thì những quan chức do bà đào tạo ra sẽ chỉ là những quan phụ mẫu, coi dân như con cái trong nhà hết, và nếu chúng hư đốn thì phải đóng cửa lại mà trừng trị. Bà là một đặc trưng của tư tưởng chuyên chếphong kiến, của thứ tư duy kiểu nhân quyền xã hội chủ nghĩa. Bà sẽ là kẻ phá hoại đáng sợ nhất, phản bội lại tư tưởng giáo dục và đào tạo độc lập của Fulbright. BOB và những người bạn của ông, thượng nghị sỹ John McCain, bộ trưởng ngoại giao John Kerry, GSThomas J. Valelly theo đuổi Dự án từ hơn hai mươi năm đương nhiên không phải để tạo ra những quan lại có tư tưởng nô lệ cho quyền lực, của thèm khát chức vị và hư danh.
Sự thất bại của bà Tôn Nữ Thị Ninh trước dư luận cho thấy một thái độ của trí thức Việt không còn như trước. Những kẻ chuyên kinh doanh lòng trung thành với chế độ và buôn bán lập trường đã không còn che được mắt xã hội, và không còn kiếm lời được nưã.
*
Nhưng nếu sự kiện ra đời của FUV lại chuyển đổi thành sự cãi lộn xung quanh chuyện danh dự hay cao thượng của bà Ninh thì dư luận đã lạc hướng.
Ít ra người ta cũng tự hỏi, những việc này chỉ đơn thuần là động cơ cá nhân bà Ninh hay phía sau bà có thế lực nào.Vietnamnet.vn là tờ báo duy nhất đăng tải cả hai lần, hai bài viết ngược dòng cuả̉ bà Ninh, có phải là tình cờ hay có sự chỉ đạo của ai. Sau vài ngày, bài viết đầu bị xóa, nhưng bài “thư ngỏ” được giữ lại muộn hơn, và hiện cũng chỉ còn trên các báo mạng khác, Vietnamnet.vn cũng đã gỡ nốt.
Từ sau khi tổng biên tập Nguyễn Anh Tuấn phải buộc ra đi sau một loạt phóng sự điều tra đất rừng đầu nguồn dính đến Innov Green Hồng Kông, Vietnamnet.vn hiện nay không khác gìVnexpresse.net, nghĩa là chỉ là cái loa không hồn, không đầu. Nếu sự thật phía sau, là Vietnamnet.vn đã bị điều khiển bởi một bàn tay nào đó, thì hiển nhiên bàn tay đó thân Trung Quốc. Và chuyện bà Ninh chỉ là chuyện phá thối.
Bắt đầu từ quỹ học bổng Fulbright do thượng nghị sỹ, cưụ chiến binh John Kerry vận động. Bước đột phá đầu tiên của nỗ lực này là trong dự luật ngân sách 1991 khi lần đầu tiên 300 ngàn USD để cấp học bổng cho sinh viên VN (Harvard sau đó góp thêm 300 ngàn USD) được đưa vào. Đột phá được thực hiện bởi John Kerry cùng cùng với sự hỗ trợ của các cựu binh như John McCain, Richard Kessler,…
Năm 1992, chương trình học bổng Fulbright, dưới sự dẫn dắt của Thomas Vallely – một cựu binh Việt Nam khác – bắt đầu đi vào hoạt động. Từ số tiền này, những nhóm sinh viên đầu tiên của chương trình Fulbright như Phạm Bình Minh, Nguyễn Thiện Nhân, Cao Đức Phát, …đã được đưa sang Mỹ để học tại những ĐH hàng đầu.
Fulbright trở thành một Dự án Đại học tư thục Việt Nam từ năm 1994 kết quả của sự hợp tác giưã Trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh và Trường Havard Kennedy. Ngân sách do Vụ Giáo dục và văn hoá bộ Ngoại giao Mỹ tài trợ. Trong thời gian vận động để có giấy phép đầu tư chính thức, dự án có tên là Chương Trình Giảng Dạy Kinh Tế Fullbright, đã hoạt động hơn 12 năm trong lĩnh vực Giáo dục và đào tạo. Hiện đang được điều hành bởi Ô/B Benjamin Haxton Wilkinson, có địa điểm tại địa chỉ: 232/6 Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Dự án là một trong những nội dung được bàn thảo trong các hoạt động chuẩn bị cho việc lý kết Hiệp định đối tác toàn diện Việt Mỹ trong chuyến thăm chính thức của chủ tịch Trương Tấn Sang năm 2013. Dự án tiếp tục được ủng hộ và có những cố gắng rất lớn từ cả hai chính phủ, đặc biệt là bộ ngoại giao hai nước. Những rào cản thiếu sự thông hiểu từ phía chính phủ Việt Nam chính là nguyên tắc độc lập về tài chính, độc lập về nội dung giảng dạy và đào tạo trên nền tảng giáo dục khai phóng. Những môn học chính được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh. Giáo trình là sự kết hợp với phương pháp giảng dạy theo nhóm giảng viên, không theo giáo trình cố định, soạn sẵn. Tuy nhiên, tất cả những trở ngại đã được vượt qua trong chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tháng 7/2015, sau khi Quốc hội Mỹ đồng ý tài trợ khoảng 20 triệu đôla, tháng 4/2014.
Giấy phép Đại học Fulbright Việt nam được cấp ngày 16/05/2016.
Quyết định thàng lập Đại học Tư thục phi lợi nhuận Fulbright Việt Nam được trao cho cựu Thượng nghị sỹ BOB Kerrey ngày 25/05/2016 trong chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Mỹ OBAMA, tại TP Hồ Chí Minh. FUV có trụ sở chính tại Khu công nghệ cao TP.HCM với diện tích đất 15 ha, là trường Đại học do Quỹ tín thác sáng kiến ĐH Việt Nam (TUIV) đầu tư bằng 100% vốn nước ngoài.
Theo chương trình FUV sẽ là một trung tâm giáo dục đào tạo đạt chuẩn quốc tế đầu tiên tại khu vực Đông nam Á theo mô hình khai phóng mở còn rất mới đối với thế giới.
Tuy vậy, bên cạnh những hy vọng tràn trề, những người mắc bệnh hoài nghi vẫn mơ hồ một điều gì đấy, hình như không có thật, hay một cái gì quá tốt đẹp đã đến một cách vội vã, vưà như một phép mầu, vưà mong manh dễ vỡ.
Nhất là khi bên cạnh nhhững cái tên Mỹ, như BOB Kerrey, Thomas Vallely…lại cónhững cái tên gây thắc mắc không có lời giải đáp, chẳng hạn như Henry Nguyễn Bảo Hoàng, con rể nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, giữ chức phó chủ tịch hội đồng tín thác, tức là nhân vật thứ hai sau Bob Kerrey, cùng với sự có mặt của Nguyễn Thanh Phượng trong lễ trao quyết định thành lập FUV ngày 25/05/2016, không khỏi gây lo sợ cho dư luận. Sự có mặt của cha con ông Dũng luôn gắn với sự lũng đoạn của âm mưu và lòng tham. Tại sao, một con người, một gia đình thuộc loại vơ bèo vạt tép, không cái gì ăn được mà không ăn, không cái gì có lãi mà không đầu tư, lại không buông tha cả cái trường Đại học tư thục phi lợi nhuận Fulbright? Họ rưả tiền? Họ rót tiền bất chính vào Fulbright để nhân danh từ thiện, khoác lên những đồng tiền nhem nhuốc của họ một thứ danh nghĩa sạch sẽ? Hay họ đã hết thời làm mưa làm gíó, đang đi tìm chỗ trú thân? Dù là gì thì khi Fulbright đi với đi với ma, người ta phải hỏi liệu chiếc áo mà FUV sẽ khoác, có phải là áo giấy? Tiền của Quỹ đầu tư Bản Việt, mà Nguyễn Thanh Phượng là Chủ tịch sẽ từ từ mua hết cổ phần của FUV, và Henry Nguyễn Bảo Hoàng sẽ trở thành Chủ tịch Hội đồng Tín thác. Trường Đại Học Fulbright đổi tên thành Trường Thanh Phượng?!.
Một cái tên khác nưã là Đàm Bích Thuỷ, nguyên Tổng Giám đốc Tập đoàn ANZ, có tên trong danh sách Hồ sơ Panama, đang đảm nhiệm chức Hiệu trưởng FUV.
Một nhà buôn tham lam Nguyễn Bảo Hoàng sẽ phụ trách việc gây quỹ, một chủ ngành ngân hàng có tài xoay tiền Đàm Bích Thuỷ làm công việc giáo dục và đào tạo. Khó có thể tiên liệu tương lai của FUV. Nếu ở chỗ nào cũng có mặt mafia và nếu mafia đã trở thành một bộ phận hữu cơ của chế độ, thì một định chế không mafia sẽ tất yếu sụp đổ?
Cùng với việc ký kết Hiệp định TPP, phát triển liên kết Quốc phòng sau dỡ bỏ cấm vận vũ khí,Peace Corps và FUV được xem là hai mũi nhọn đầu tiên, thâm nhập vào môi trường xã hội Việt Nam.
Việc chính thức cho ra đời hai định chế này, một mặt phản ánh những nghi ngại của Hà Nội quan niệm Mỹ như một thể chế chính trị đối kháng, như kẻ thù của chế độ có thể đã được gỡ bỏ, một mặt khác, sự nhượng bộ của chính quyền Hà Nội phản ánh xu hướng chấp nhận một sự chuyển hóa cơ cấu xã hội từ bên trong.
Đây có thể là một giai đoạn chuyển tiếp, một dạng quá độ đầy mâu thuẫn và đầy trở ngại, nhưng chứa đựng những mầm mống thay đổi căn bản?
Quá trình sáp lại gần nhau đầy nghi kị để đạt tới hợp tác toàn diện hôm nay và đang hiện hình một hợp tác đối tác chiến lược có thể trong tương lai không xa cho thấy một vài cảm nhận :
1- Chính quyền Mỹ dù khác về bản chất thể chế chính trị, không còn là đối tượng thù địch. Trong khi vẫn còn là nhân tố nghi ngại cho sự tồn vong của chế độ độc đảng, Mỹ là nhân tố quyết định tới chủ quyền quốc gia, tới phát triển thịnh vượng và văn minh xã hội.
2- Không có phe thân Trung Quốc trong nội bộ Đ̣ảng cộng sản từ sau đại hội XII.
3- Chính sách cân bằng Trung – Mỹ chủ yếu nhằm mục đích tránh một khủng hoảng có tính khủng bố và áp lực xung đột chiến tranh cục bộ đến từ Bắc Kinh, trong khi Hà Nội chưa chuẩn bị kịp các điều kiện đối phó cần thiết, không phải là chính sách vì sự duy trì thân thiện.
4- Hiện trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam chỉ còn hai quan điểm khác nhau, quan điểm tự nguyện cải cách theo hướng dân chủ hoá từng bước; và quan điểm tiếp tục duy trì chế độ độc đảng bằng cách tận dụng mọi cơ hội để tăng trưởng kinh tế.
Quan điểm tự nguyện cải cách ủng hộ hoàn toàn các quyết định ký kết TPP, quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí, quyết định ký kết Hiệp định khung cho chương trình Hoà Bình Việt Mỹ, và quyết định thành lập Đại học FUV. Lực lượng này xem các định chế trên như những công cụ giúp xã hội Việt Nam thay đổi dần từng bước từ bên trong.
Ngược lại, quan điểm duy trì chế độ độc đảng tố cáo các định chế trên là công cụ diễn biến hoà bình, là vũ khí của chủ nghĩa tư bản Mỹ nhằm xoá bỏ chế độ cộng sản, tước bỏ thành quả của cách mạng vô sản Việt Nam, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Lực lượng này, đương nhiên là những nhân vật giáo điều, bảo thủ trong đảng, trung thành mù quáng với tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin. Lực lượng này buộc phải bám víu vào Trung Quốc và không tránh được bị Trung Quốc lợi dụng.
Dù bề ngoài, người ta đang cố sức che đậy những khuyết tật, cố dựng lên một hình hài đồ sộ và màu mè, nhưng không có cách gì che chắn được những đổ vỡ. Cuộc bầu cử quốc hội XIV đã thất bại, một số các cơ cấu của Quốc hội sẽ buộc phải chắp vá. Đảng viên đang bỏ đảng và từ chối sinh hoạt với con số tăng lên từng ngày. Những sạt lở từng mảng không thể chống đỡ đang bắt đầu.Những người còn chút tỉnh táo, khôn ngoan chắc cũng tự tìm ra cách hành xử thích ứng.
Bùi Quang Vơm
(Ba Sàm)

Sáng nay chủ nhật mình gọi điện về VN cho một ông bạn cùng quê. Ông ta hơn mình mấy tuổi trước đây làm quan to trong Tổng cục Du Lịch, mới về hưu được mấy năm. Mình hỏi anh tình hình biển nhiễm độc như thế thì du lịch biển sẽ về đâu ? Anh nói chết hết rồi chú ơi. Quả Formosa này chúng nó từ trên xuống dưới kiếm giỏi lắm thì được 4 tỷ đô mà thiệt hại cho đất nước thì không dưới 100 tỷ USD chưa nói đến môi trường sinh thái biển, các rặng san hô, các vườn cá ngầm, rong rêu… có thể hàng trăm năm sau chưa hồi phục lại được . Mình hỏi sao mà lớn vậy anh ? 100 tỷ USD là nhiều lắm à nha.
Anh nói để anh tính sơ sơ cho chú nhé. 
- Về ngư nghiệp : có hơn 30.000 tàu thuyền, mỗi con tàu đánh cá nhỏ cùng với ngư lưới cụ ít ra cũng là 500 – 600 triệu tính ra cũng là hơn 1 tỷ đô rồi. Mấy con tàu đó mà nằm bờ dăm tháng thôi là chỉ còn sắt vụn và gỗ mục thôi, máy móc thì hư, mà không hư cũng chẳng bán được cho ai còn ngư lưới cụ thì mục nát hết, các loại máy như máy định vị, ra đa dò luồng cá, máy liên lạc vô tuyến VHF, tời neo kéo lưới, đèn đóm, ac quy… tất cả bán ve chai cũng không ai mua, mà vứt đi thì cũng không có chỗ vứt, kéo lên bờ thì cũng không có chỗ để mà lại phải tốn công kéo, chỉ còn cách đánh đắm xuống biển thôi, thế thì biển lại thêm ô nhiễm gấp mấy lần nữa. Thiệt hại này thì không thể tính được.
- Về ngư dân : có gần 5 triệu ngư dân và những người làm nghề ăn theo biển như bán xăng dầu, đóng mới và sửa chữa tàu bè, sản xuất ngư lưới cụ, máy móc thiết bị nghề cá, làm nước đá, cung cấp nhu yếu phẩm gạo, sữa, bia bọt … cho ngư dân, tất cả đều thất nghiệp chẳng biết bán hàng cho ai. Nhiều ông sẽ phá sản vì ngư dân thường mua chịu đi biển về bán cá mới có tiền trả, bây giờ cá không có, mà có cũng không bán được thì lấy gì trả… thịt ngư dân có ăn được không ? coi như là xong luôn. Lại còn đội ngũ thu mua, chế biến hải sản trên bờ, coi như là đóng cửa thất nghiệp luôn… tiền ứng trước cho ngư dân là cũng mất luôn… Vợ con ngư dân lâu nay sống nhờ biển cũng thất nghiệp và nghỉ học luôn.
- Về du lịch : Thử hỏi chú bờ biển Đông từ Vịnh Bắc Bộ cho đến Cà Mau hơn 3000 km có hàng ngàn bãi tắm và điểm du lịch bây giờ có ai dám xuống tắm không ? Biển không tắm được thì ai đến làm gì vậy thì hàng trăm ngàn nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng, sân Golf, resort … rồi thì đội ngũ phục vụ, nấu nướng, xe ôm, taxi, kể cả bia ôm, mát xa, mát gần, karaoke… bây giờ ngồi vêu mỏ hết, khô bướm hết luôn… Thì những thiệt hại đó chú có tính được không? Tầm cỡ chú mà không tính ra thì ai tính ra.
- Đó là anh chỉ nói sơ sơ 2 lĩnh vực đó thôi, còn người dân cả nước thì sao? Đã hơn 10 năm nay rồi từ ngày 3X nó cho nhập mấy cái nhà máy nhiệt điện Trung Quốc về thì tất cả nước làm mát và hoá chất súc rửa đường ống đều xả thẳng xuống biển, thằng Formosa, Vedan …này nó làm lộ quá, liều quá nên một mình nó bị chửi thôi chứ còn các nhà máy nhiệt điện của Dầu Khí và Điện Lực thì nó xả còn gấp 10 lần thằng này. Vậy thì cứ tính 10 năm nay thôi dân mình ăn bao nhiêu cá, tôm, nghêu, sò, ốc, hến, sứa … bao nhiêu rong biển được nấu canh, bao nhiêu muối, nước mắm, bao nhiêu người ngâm mình dưới biển, có người ngày nào cũng tắm biển… Vậy thì mấy chục triệu con người này sẽ bị ung thư và có nguy cơ bị ung thư. Thiệt hại đó ai tính được ?
Cái ác của chúng là nó chỉ làm các nhà máy này tại Biển Đông thôi và dòng hải lưu thì đổi chiều nên chất độc cứ chảy đến Cà Mau thì ngưng lại và chảy theo chiều ngược lại. Còn phía Bắc thì chất độc chỉ chảy đến vịnh Bắc Bộ gần hải phận Trung Quốc là ngưng lại chảy ngược vào Nam. Như vậy chất độc chỉ sàng qua sàng lại thôi và chỉ dân mình chết thôi.
Còn biển Tây – Phú quốc – Kiên Giang thì an toàn nên chuyến này dân giàu sẽ đổ dồn về đây du lịch, tắm biển, mua đất đai, rồi thuỷ hải sản nước mắm, muối ở đây sẽ đắt ngang hàng nhập từ Thái Lan. Mà chú biết Kiên Giang này thì cha con nhà 3X với Lê Hồng Anh làm vua từ 1975 đến nay nên có cơ sở nào, công ty nào, khách sạn nào, khu du lịch nào… nếu không có bóng dáng cha con, họ hàng nhà nó mà hoạt động được không?
Phải nói là cú chuẩn bị để hạ cánh của nó đẹp còn hơn mơ nữa! 
Mình nghe xong quăng điện thoại xuống giường và nằm khóc. Ôi đất nước tôi!  Đồng bào hãy đọc những dòng chữ này rồi tìm con đường sống cho mình nhé. 
(FB. Hiếu Bùi)
23:30 Unknown

Sáng nay chủ nhật mình gọi điện về VN cho một ông bạn cùng quê. Ông ta hơn mình mấy tuổi trước đây làm quan to trong Tổng cục Du Lịch, mới về hưu được mấy năm. Mình hỏi anh tình hình biển nhiễm độc như thế thì du lịch biển sẽ về đâu ? Anh nói chết hết rồi chú ơi. Quả Formosa này chúng nó từ trên xuống dưới kiếm giỏi lắm thì được 4 tỷ đô mà thiệt hại cho đất nước thì không dưới 100 tỷ USD chưa nói đến môi trường sinh thái biển, các rặng san hô, các vườn cá ngầm, rong rêu… có thể hàng trăm năm sau chưa hồi phục lại được . Mình hỏi sao mà lớn vậy anh ? 100 tỷ USD là nhiều lắm à nha.
Anh nói để anh tính sơ sơ cho chú nhé. 
- Về ngư nghiệp : có hơn 30.000 tàu thuyền, mỗi con tàu đánh cá nhỏ cùng với ngư lưới cụ ít ra cũng là 500 – 600 triệu tính ra cũng là hơn 1 tỷ đô rồi. Mấy con tàu đó mà nằm bờ dăm tháng thôi là chỉ còn sắt vụn và gỗ mục thôi, máy móc thì hư, mà không hư cũng chẳng bán được cho ai còn ngư lưới cụ thì mục nát hết, các loại máy như máy định vị, ra đa dò luồng cá, máy liên lạc vô tuyến VHF, tời neo kéo lưới, đèn đóm, ac quy… tất cả bán ve chai cũng không ai mua, mà vứt đi thì cũng không có chỗ vứt, kéo lên bờ thì cũng không có chỗ để mà lại phải tốn công kéo, chỉ còn cách đánh đắm xuống biển thôi, thế thì biển lại thêm ô nhiễm gấp mấy lần nữa. Thiệt hại này thì không thể tính được.
- Về ngư dân : có gần 5 triệu ngư dân và những người làm nghề ăn theo biển như bán xăng dầu, đóng mới và sửa chữa tàu bè, sản xuất ngư lưới cụ, máy móc thiết bị nghề cá, làm nước đá, cung cấp nhu yếu phẩm gạo, sữa, bia bọt … cho ngư dân, tất cả đều thất nghiệp chẳng biết bán hàng cho ai. Nhiều ông sẽ phá sản vì ngư dân thường mua chịu đi biển về bán cá mới có tiền trả, bây giờ cá không có, mà có cũng không bán được thì lấy gì trả… thịt ngư dân có ăn được không ? coi như là xong luôn. Lại còn đội ngũ thu mua, chế biến hải sản trên bờ, coi như là đóng cửa thất nghiệp luôn… tiền ứng trước cho ngư dân là cũng mất luôn… Vợ con ngư dân lâu nay sống nhờ biển cũng thất nghiệp và nghỉ học luôn.
- Về du lịch : Thử hỏi chú bờ biển Đông từ Vịnh Bắc Bộ cho đến Cà Mau hơn 3000 km có hàng ngàn bãi tắm và điểm du lịch bây giờ có ai dám xuống tắm không ? Biển không tắm được thì ai đến làm gì vậy thì hàng trăm ngàn nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng, sân Golf, resort … rồi thì đội ngũ phục vụ, nấu nướng, xe ôm, taxi, kể cả bia ôm, mát xa, mát gần, karaoke… bây giờ ngồi vêu mỏ hết, khô bướm hết luôn… Thì những thiệt hại đó chú có tính được không? Tầm cỡ chú mà không tính ra thì ai tính ra.
- Đó là anh chỉ nói sơ sơ 2 lĩnh vực đó thôi, còn người dân cả nước thì sao? Đã hơn 10 năm nay rồi từ ngày 3X nó cho nhập mấy cái nhà máy nhiệt điện Trung Quốc về thì tất cả nước làm mát và hoá chất súc rửa đường ống đều xả thẳng xuống biển, thằng Formosa, Vedan …này nó làm lộ quá, liều quá nên một mình nó bị chửi thôi chứ còn các nhà máy nhiệt điện của Dầu Khí và Điện Lực thì nó xả còn gấp 10 lần thằng này. Vậy thì cứ tính 10 năm nay thôi dân mình ăn bao nhiêu cá, tôm, nghêu, sò, ốc, hến, sứa … bao nhiêu rong biển được nấu canh, bao nhiêu muối, nước mắm, bao nhiêu người ngâm mình dưới biển, có người ngày nào cũng tắm biển… Vậy thì mấy chục triệu con người này sẽ bị ung thư và có nguy cơ bị ung thư. Thiệt hại đó ai tính được ?
Cái ác của chúng là nó chỉ làm các nhà máy này tại Biển Đông thôi và dòng hải lưu thì đổi chiều nên chất độc cứ chảy đến Cà Mau thì ngưng lại và chảy theo chiều ngược lại. Còn phía Bắc thì chất độc chỉ chảy đến vịnh Bắc Bộ gần hải phận Trung Quốc là ngưng lại chảy ngược vào Nam. Như vậy chất độc chỉ sàng qua sàng lại thôi và chỉ dân mình chết thôi.
Còn biển Tây – Phú quốc – Kiên Giang thì an toàn nên chuyến này dân giàu sẽ đổ dồn về đây du lịch, tắm biển, mua đất đai, rồi thuỷ hải sản nước mắm, muối ở đây sẽ đắt ngang hàng nhập từ Thái Lan. Mà chú biết Kiên Giang này thì cha con nhà 3X với Lê Hồng Anh làm vua từ 1975 đến nay nên có cơ sở nào, công ty nào, khách sạn nào, khu du lịch nào… nếu không có bóng dáng cha con, họ hàng nhà nó mà hoạt động được không?
Phải nói là cú chuẩn bị để hạ cánh của nó đẹp còn hơn mơ nữa! 
Mình nghe xong quăng điện thoại xuống giường và nằm khóc. Ôi đất nước tôi!  Đồng bào hãy đọc những dòng chữ này rồi tìm con đường sống cho mình nhé. 
(FB. Hiếu Bùi)
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng. Ảnh: internet
Cựu Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng. Ảnh: internet
“Mai nghỉ hưu, hôm nay phải hoàn thành nhiệm vụ của mình, không phải sắp nghỉ thì không chịu trách nhiệm gì”. Tại cuộc họp báo Chính phủ cuối năm 2015, thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn đã nói như vậy.

Cá nhân tôi thì nghĩ rằng, sắp nghỉ hưu đương nhiên phải chịu trách nhiệm với công việc. Còn nghỉ hưu rồi, vẫn phải chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm.

Cuối 2014, ông Trần Văn Truyền, nguyên tổng thanh tra Chính phủ đã phải nhận hình thức kỉ luật từ Ban Bí thư. Trước đó, ông Truyền bị báo chí phản ánh có nhiều sai phạm trong thực hiện chế độ chính sách về nhà ở, kí hàng chục quyết định thăng quan tiến chức cho thuộc cấp trước khi về hưu. Dân gian gọi là hốt cú chót.

Những vụ việc như vậy xử lý được, thì không có lý gì lại bỏ qua trường hợp của nguyên Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, trong vụ việc liên quan đến việc bổ nhiệm ông Trịnh Xuân Thanh, người đang nổi danh với việc gắn biển số xanh vào chiếc xe Lexus trị giá hơn 5 tỉ đồng làm phương tiện đi lại.

Ông Trịnh Xuân Thanh, sinh năm 1966, quê ở Đông Anh, Hà Nội. Từ 2009-2013, ông Thanh giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị, bí thư Đảng ủy Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí (PVC), thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam.

Trong thời gian ông Thanh lèo lái con thuyền PVC cùng với Vũ Đức Thuận (tổng giám đốc từ 2009-2013), PVC lâm vào tình trạng khó khăn, thua lỗ trầm trọng. Theo báo cáo tài chính đã kiểm toán của PVC, năm 2012 công ty này lỗ 1.368 tỉ đồng. Năm 2013, PVC lỗ 1.927 tỉ đồng. Đó là chưa tính khoản lỗ của các đơn vị thành viên.

Trước tình trạng này, đầu năm 2014, Văn phòng Chính phủ đã có thông báo truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ khi ấy là ông Nguyễn Tấn Dũng, yêu cầu Tập đoàn dầu khí quốc gia VN kiểm điểm và làm rõ trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân trong việc kinh doanh thua lỗ của PVC, gây cho khăn cho cả Tập đoàn. Đồng thời, phải báo cáo Bộ Công thương. Bộ Công thương xem xét và báo cáo thủ tướng.

Không hiểu Bộ Công thương đã thực hiện xem xét và giám sát việc xử lý của tập thể và cá nhân để xảy ra thất thoát hàng ngàn tỉ đồng như thế nào, mà suốt từ đó đến nay, những người trực tiếp điều hành doanh nghiệp nhà nước gây thua lỗ, lại vẫn đang thênh thang quan lộ.

Không những thế, thay vì báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất xử lý trách nhiệm các cá nhân như ông Thanh, ông Thuận, thì chỉ trong vòng 19 tháng, chính Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đã ba lần thăng tiến cho Trịnh Xuân Thanh.

Cụ thể, từ tháng 9-2013 đến tháng 4-2015: ông Trịnh Xuân Thanh được chuyển từ vị trí chủ tịch hội đồng quản trị PVC sang làm phó chánh văn phòng Bộ Công thương, trưởng đại diện Bộ Công thương tại Đà Nẵng; Tiếp đó, ông Thanh được đề bạt lên chức Chánh văn phòng Bộ Công thương; Sau đó, ông Thanh lại tiếp tục được nắm giữ chức Vụ trưởng, chánh văn phòng Ban cán sự Đảng Bộ Công thương.

Đó có thể coi là những bước đệm để ông Thanh về Hậu Giang làm phó chủ tịch tỉnh và sự nghiệp chính trị tiếp tục rộng mở khi ông Thanh vừa trúng cử đại biểu Quốc hội.

10 năm làm Bộ trưởng Bộ Công thương, ông Vũ Huy Hoàng đã làm gì?

“Thành tích” nổi bật nhất có lẽ là sắp xếp được vị trí cho con trai Vũ Quang Hải hiện ngồi ở Sabeco.

Một “thành tích” nổi bật khác, là ông Hoàng đã tạo ra một cơ chế giám sát vô cùng lỏng lẻo cho đa cấp biến tướng lộng hành, hút máu hàng triệu dân nghèo, tiền mồ hôi nước mắt của người dân được vơ vét về tay vài thế lực.

10 năm làm Bộ trưởng Bộ Công thương, câu chuyện đầu ra cho nông sản Việt Nam vẫn không có nhiều sự chuyển biến tích cực. Có chăng là doanh nghiệp đã tự mò mẫm tìm đường. Dưa hấu, thanh long… vẫn cứ được mùa mất giá. Năm 2015, khi nông dân miền Trung chỉ còn biết khóc trên những cánh đồng dưa hấu không có người mua, thì Bộ Công thương, nơi lẽ ra phải có những quyết sách mang tầm quốc gia giải quyết đầu ra cho người dân bớt cơ cực, thì họ cũng chỉ biến trụ sở Bộ Công thương thành một điểm bán dưa từ thiện.

Trong bối cảnh đó, ông Vũ Huy Hoàng, càng ngày tôi càng thấy thịnh tướng, da dẻ hồng hào, thân hình bệ vệ, khuôn mặt chưa bao giờ có nét đăm chiêu.

H1

(Còn tiếp…).

Bạch Hoàn

(FB Bạch Hoàn)
17:58 Unknown
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng. Ảnh: internet
Cựu Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng. Ảnh: internet
“Mai nghỉ hưu, hôm nay phải hoàn thành nhiệm vụ của mình, không phải sắp nghỉ thì không chịu trách nhiệm gì”. Tại cuộc họp báo Chính phủ cuối năm 2015, thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn đã nói như vậy.

Cá nhân tôi thì nghĩ rằng, sắp nghỉ hưu đương nhiên phải chịu trách nhiệm với công việc. Còn nghỉ hưu rồi, vẫn phải chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm.

Cuối 2014, ông Trần Văn Truyền, nguyên tổng thanh tra Chính phủ đã phải nhận hình thức kỉ luật từ Ban Bí thư. Trước đó, ông Truyền bị báo chí phản ánh có nhiều sai phạm trong thực hiện chế độ chính sách về nhà ở, kí hàng chục quyết định thăng quan tiến chức cho thuộc cấp trước khi về hưu. Dân gian gọi là hốt cú chót.

Những vụ việc như vậy xử lý được, thì không có lý gì lại bỏ qua trường hợp của nguyên Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, trong vụ việc liên quan đến việc bổ nhiệm ông Trịnh Xuân Thanh, người đang nổi danh với việc gắn biển số xanh vào chiếc xe Lexus trị giá hơn 5 tỉ đồng làm phương tiện đi lại.

Ông Trịnh Xuân Thanh, sinh năm 1966, quê ở Đông Anh, Hà Nội. Từ 2009-2013, ông Thanh giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị, bí thư Đảng ủy Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí (PVC), thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam.

Trong thời gian ông Thanh lèo lái con thuyền PVC cùng với Vũ Đức Thuận (tổng giám đốc từ 2009-2013), PVC lâm vào tình trạng khó khăn, thua lỗ trầm trọng. Theo báo cáo tài chính đã kiểm toán của PVC, năm 2012 công ty này lỗ 1.368 tỉ đồng. Năm 2013, PVC lỗ 1.927 tỉ đồng. Đó là chưa tính khoản lỗ của các đơn vị thành viên.

Trước tình trạng này, đầu năm 2014, Văn phòng Chính phủ đã có thông báo truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ khi ấy là ông Nguyễn Tấn Dũng, yêu cầu Tập đoàn dầu khí quốc gia VN kiểm điểm và làm rõ trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân trong việc kinh doanh thua lỗ của PVC, gây cho khăn cho cả Tập đoàn. Đồng thời, phải báo cáo Bộ Công thương. Bộ Công thương xem xét và báo cáo thủ tướng.

Không hiểu Bộ Công thương đã thực hiện xem xét và giám sát việc xử lý của tập thể và cá nhân để xảy ra thất thoát hàng ngàn tỉ đồng như thế nào, mà suốt từ đó đến nay, những người trực tiếp điều hành doanh nghiệp nhà nước gây thua lỗ, lại vẫn đang thênh thang quan lộ.

Không những thế, thay vì báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất xử lý trách nhiệm các cá nhân như ông Thanh, ông Thuận, thì chỉ trong vòng 19 tháng, chính Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đã ba lần thăng tiến cho Trịnh Xuân Thanh.

Cụ thể, từ tháng 9-2013 đến tháng 4-2015: ông Trịnh Xuân Thanh được chuyển từ vị trí chủ tịch hội đồng quản trị PVC sang làm phó chánh văn phòng Bộ Công thương, trưởng đại diện Bộ Công thương tại Đà Nẵng; Tiếp đó, ông Thanh được đề bạt lên chức Chánh văn phòng Bộ Công thương; Sau đó, ông Thanh lại tiếp tục được nắm giữ chức Vụ trưởng, chánh văn phòng Ban cán sự Đảng Bộ Công thương.

Đó có thể coi là những bước đệm để ông Thanh về Hậu Giang làm phó chủ tịch tỉnh và sự nghiệp chính trị tiếp tục rộng mở khi ông Thanh vừa trúng cử đại biểu Quốc hội.

10 năm làm Bộ trưởng Bộ Công thương, ông Vũ Huy Hoàng đã làm gì?

“Thành tích” nổi bật nhất có lẽ là sắp xếp được vị trí cho con trai Vũ Quang Hải hiện ngồi ở Sabeco.

Một “thành tích” nổi bật khác, là ông Hoàng đã tạo ra một cơ chế giám sát vô cùng lỏng lẻo cho đa cấp biến tướng lộng hành, hút máu hàng triệu dân nghèo, tiền mồ hôi nước mắt của người dân được vơ vét về tay vài thế lực.

10 năm làm Bộ trưởng Bộ Công thương, câu chuyện đầu ra cho nông sản Việt Nam vẫn không có nhiều sự chuyển biến tích cực. Có chăng là doanh nghiệp đã tự mò mẫm tìm đường. Dưa hấu, thanh long… vẫn cứ được mùa mất giá. Năm 2015, khi nông dân miền Trung chỉ còn biết khóc trên những cánh đồng dưa hấu không có người mua, thì Bộ Công thương, nơi lẽ ra phải có những quyết sách mang tầm quốc gia giải quyết đầu ra cho người dân bớt cơ cực, thì họ cũng chỉ biến trụ sở Bộ Công thương thành một điểm bán dưa từ thiện.

Trong bối cảnh đó, ông Vũ Huy Hoàng, càng ngày tôi càng thấy thịnh tướng, da dẻ hồng hào, thân hình bệ vệ, khuôn mặt chưa bao giờ có nét đăm chiêu.

H1

(Còn tiếp…).

Bạch Hoàn

(FB Bạch Hoàn)
Ông Nguyễn Phú Trọng yêu cầu điều tra vụ việc đi xe biển số xanh
Ông Trịnh Xuân Thanh từng giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị của Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC)

Truyền thông Việt Nam đặt vấn đề về cách bổ nhiệm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, người mới lên báo vì sử dụng xe cá nhân gắn biển xanh.

Phía Đảng Cộng sản và Chính phủ - cụ thể là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình – đã yêu cầu nhanh chóng làm rõ thông tin báo chí nói ông Trịnh Xuân Thanh dùng xe ô tô Lexus gắn biển xanh.

Tuy vậy, dường như câu chuyện đang đi xa hơn sau khi một số báo lật lại thời gian ông Thanh làm chủ tịch hội đồng quản trị của Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) từ 2009 đến 2013.

Báo Tuổi Trẻ nói trong thời gian này, PVC “mất cân đối về tài chính, sa lầy vào bất động sản, đặc biệt là có tình trạng đầu tư vốn vào nhiều dự án không đúng mục đích”.

Trang VnExpress lại cho biết sau khi rời ngành dầu khí, ông Thanh được luân chuyển ba chức vụ khác nhau ở Bộ Công Thương trước khi giữ cương vị Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang.

Nói với BBC, cây bút Phạm Chí Dũng, từ TP. HCM, nhận xét vụ phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang đi xe Lexus biển số xanh "không chỉ dừng lại ở nội bộ của tỉnh Hậu Giang".

Ông Phạm Chí Dũng nhận định: "Đã lâu lắm rồi mới có một văn bản của tổng bí thư chỉ đạo trực tiếp làm rõ. Và trong văn bản của Tổng bí thư Trọng có ghi là việc cần làm ngay."

"30 năm rồi mới xuất hiện cụm từ này trở lại," ông Dũng nói.

Hôm 10/6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương cùng với các cơ quan, địa phương liên quan nhanh chóng tổ chức việc kiểm tra, kết luận vụ đi xe biển số xanh, coi đây là “việc cần làm ngay”.

Vụ việc bắt đầu từ khi hình ảnh chiếc xe Lexus 570 trị giá hơn 5 tỷ mà ông Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh sử dụng có gắn biển số xanh.

Trong một lần trả lời báo chí, ông Trịnh Xuân Thanh giải thích lý do ông sử dụng xe Lexus có biển số xanh là được "lãnh đạo tỉnh đồng tình" và cấp để ông "thuận tiện công việc". Chiếc xe Lexus ông Thanh nói là "mượn xe bạn".

Ông Trịnh Xuân Thanh cũng nói với tờ VietnamNet ông "đã trả lại biển số xanh".

Sau khi rời ngành dầu khí, ông Thanh từng được Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng ký quyết định bổ nhiệm làm Phó chánh văn phòng Bộ, Trưởng đại diện Bộ Công Thương tại Đà Nẵng.

Đến tháng Ba 2014, ông Thanh được chuyển sang làm Chánh văn phòng Bộ Công Thương và vào tháng Hai 2015, ông trở thành Vụ trưởng, Ban đổi mới doanh nghiệp Bộ.

Đến tháng 5/2015, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban tỉnh Hậu Giang.

Nói với BBC, ông Phạm Chí Dũng nhận định: “Vụ xe Lexus có biển số xanh không chỉ dừng lại ở nội bộ của tỉnh Hậu Giang, mà tôi cho là có vấn đề ở cấp cao hơn, có thể liên quan đến đánh giá trong thời gian ông Thanh làm Tổng giám đốc công ty PVC thua lỗ đầm đìa như vậy nhưng mà sau đó ông Thanh lại được nhấc lên vị trí ở Bộ Công thương.”

(BBC)
17:02 Unknown
Ông Nguyễn Phú Trọng yêu cầu điều tra vụ việc đi xe biển số xanh
Ông Trịnh Xuân Thanh từng giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị của Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC)

Truyền thông Việt Nam đặt vấn đề về cách bổ nhiệm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, người mới lên báo vì sử dụng xe cá nhân gắn biển xanh.

Phía Đảng Cộng sản và Chính phủ - cụ thể là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình – đã yêu cầu nhanh chóng làm rõ thông tin báo chí nói ông Trịnh Xuân Thanh dùng xe ô tô Lexus gắn biển xanh.

Tuy vậy, dường như câu chuyện đang đi xa hơn sau khi một số báo lật lại thời gian ông Thanh làm chủ tịch hội đồng quản trị của Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) từ 2009 đến 2013.

Báo Tuổi Trẻ nói trong thời gian này, PVC “mất cân đối về tài chính, sa lầy vào bất động sản, đặc biệt là có tình trạng đầu tư vốn vào nhiều dự án không đúng mục đích”.

Trang VnExpress lại cho biết sau khi rời ngành dầu khí, ông Thanh được luân chuyển ba chức vụ khác nhau ở Bộ Công Thương trước khi giữ cương vị Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang.

Nói với BBC, cây bút Phạm Chí Dũng, từ TP. HCM, nhận xét vụ phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang đi xe Lexus biển số xanh "không chỉ dừng lại ở nội bộ của tỉnh Hậu Giang".

Ông Phạm Chí Dũng nhận định: "Đã lâu lắm rồi mới có một văn bản của tổng bí thư chỉ đạo trực tiếp làm rõ. Và trong văn bản của Tổng bí thư Trọng có ghi là việc cần làm ngay."

"30 năm rồi mới xuất hiện cụm từ này trở lại," ông Dũng nói.

Hôm 10/6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương cùng với các cơ quan, địa phương liên quan nhanh chóng tổ chức việc kiểm tra, kết luận vụ đi xe biển số xanh, coi đây là “việc cần làm ngay”.

Vụ việc bắt đầu từ khi hình ảnh chiếc xe Lexus 570 trị giá hơn 5 tỷ mà ông Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh sử dụng có gắn biển số xanh.

Trong một lần trả lời báo chí, ông Trịnh Xuân Thanh giải thích lý do ông sử dụng xe Lexus có biển số xanh là được "lãnh đạo tỉnh đồng tình" và cấp để ông "thuận tiện công việc". Chiếc xe Lexus ông Thanh nói là "mượn xe bạn".

Ông Trịnh Xuân Thanh cũng nói với tờ VietnamNet ông "đã trả lại biển số xanh".

Sau khi rời ngành dầu khí, ông Thanh từng được Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng ký quyết định bổ nhiệm làm Phó chánh văn phòng Bộ, Trưởng đại diện Bộ Công Thương tại Đà Nẵng.

Đến tháng Ba 2014, ông Thanh được chuyển sang làm Chánh văn phòng Bộ Công Thương và vào tháng Hai 2015, ông trở thành Vụ trưởng, Ban đổi mới doanh nghiệp Bộ.

Đến tháng 5/2015, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban tỉnh Hậu Giang.

Nói với BBC, ông Phạm Chí Dũng nhận định: “Vụ xe Lexus có biển số xanh không chỉ dừng lại ở nội bộ của tỉnh Hậu Giang, mà tôi cho là có vấn đề ở cấp cao hơn, có thể liên quan đến đánh giá trong thời gian ông Thanh làm Tổng giám đốc công ty PVC thua lỗ đầm đìa như vậy nhưng mà sau đó ông Thanh lại được nhấc lên vị trí ở Bộ Công thương.”

(BBC)

Lời nói đầu: Sau khi các báo đăng bài viết của tôi nhan đề “Sự thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương”, thì có một độc giả nhận là du học sinh Việt Nam, đã e-mail hỏi tôi về việc gia đình và vợ con của Hồ Chí Minh. Câu hỏi nầy trùng với đề tài một bài báo tôi đã viết và đăng trên Thế Kỷ 21 ở California gần mười năm trước. Tôi hiệu đính và đăng lại bài nầy, hy vọng để cung cấp cho các bạn trẻ thêm một số thông tin về đời sống Hồ Chí Minh mà trong nước cấm kỵ và bưng bít.
Một người đến tuổi trưởng thành, lập gia đình là chuyện bình thường. Hồ Chí Minh là một con người như mọi người. Do đó, nếu Hồ Chí Minh lấy vợ thì không có gì đáng nói. Tuy nhiên, bản thân Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) luôn luôn xưng tụng ông Hồ là một người chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước nên không có thời giờ lập gia đình, và không có vợ con. Sự thật không phải như thế. Tài liệu cho thấy rằng ít nhất ông Hồ đã bốn lần lấy vợ.

1. Tăng Tuyết Minh, ngượi vợ đầu
 
Tăng Tuyết Minh: thời xuân sắc và lúc tuổi già mòn mỏi đợi chờ (với ảnh vẫn trên tường)
Nguồn: dprk-cn.com

Tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc, tên của ông Hồ thời mới qua Liên Xô, rời Moscow đi Vladivostok (Hải Sâm Uy), hải cảng cực đông Liên Xô, trên bờ biển Thái Bình Dương. Từ đây, ông đáp tàu thủy, xuống tới Quảng Châu khoảng giữa tháng 11-1924, với bí danh Lý Thụy, một công dân Trung Hoa, làm thư ký kiêm thông ngôn trong phái đoàn cố vấn Borodine (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh quốc cộng lần thứ nhất ở Trung Hoa.

Trong thời gian sống tại Quảng Châu, ngoài những hoạt động chính trị, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc), Uỷ viên Đông phương bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), đã kết hôn với một nữ đảng viên CSTH là Tăng Tuyết Minh (1905-1991) ngày 18-10-1926. Lễ kết hôn diễn ra tại nhà hàng Thái Bình ở trung tâm thành phố Quảng Châu với sự hiện diện của các bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ ông Chu Ân Lai), Bào La Đình, Thái Sướng. Hai người chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng bùng nổ ngày 12-4-1927.(1) Lý Thụy trốn đi Vũ Hán, đến Thượng Hải, theo đường biển lên Vladivostok (Hải Sâm Uy), qua Moscow khoảng giữa tháng 6 năm 1927.

Cuối năm 1927, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc) được ĐTQTCS chuyển qua hoạt động ở Tây Âu một thời gian ngắn, rồi đến Ý. Tại đây, ông được gởi qua Xiêm La (Thái Lan) và ông đến Xiêm tháng 8-1928. Trong thời gian họat động ở Xiêm La, Lý Thụy có gởi cho Tăng Tuyết Minh một lá thư bằng chữ Nho, bị mật thám Pháp phát hiện ngày 14-8-1928, nên thư không đến tay người nhận(2)

Vào tháng 5-1950, nhìn thấy hình Hồ Chí Minh trên Nhân Dân Nhật Báo (Trung Hoa), bà Tăng Tuyết Minh gởi nhiều lá thư cho ông Hồ, thông qua đại sứ Việt Minh ở Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan, nhưng đều không được trả lời. Sau năm 1954, bà Tăng Tuyết Minh xin qua Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, cũng bị từ chối. (3)


 
Thư Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng (Công an) Đông Dương phát hiện ngày 14/8/1928
Nguồn: Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l'Indochine au Vietnam

Nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội phủ nhận mối quan hệ giữa Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh. Họ cho rằng nếu lá thư có thật, chẳng qua là Lý Thụy thường thông tin với các đồng chí dưới dạng thư tình để qua mặt giới tình báo của các nước tại Quảng Châu, Trung Hoa. Sự phản bác nầy không hữu lý, vì chú ý đọc kỹ lá thư với lời lẽ rất thân thiết lãng mạn (muội, huynh, tình thâm), thì không thể là thư liên lạc bình thường.

Sau đây là lá thư Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng (Công an) Đông Dương phát hiện ngày 14/8/1928:
“Dữ muội tương biệt,
Chuyển thuấn niên dư,
Hoài niệm tình thâm,
Bất ngôn tự hiểu.
Từ nhân hồng tiện,
Dao ký thốn tiên,
Tỷ muội an tâm,
Thị ngã da vọng.
Tịnh thỉnh nhạc mẫu vạn phúc.
Chuyết huynh Thụy.”

Tạm dịch:

“Cùng em chia tay nhau,
Thấm thoát nháy mắt đã hơn năm,
Nhớ nhung tình sâu,
Không nói cũng tự biết.
Nay nhân gởi tin hồng nhạn,
Xa xôi gởi lá thư mang tấm lòng,
Mong em yên tâm,
Là điều anh trông ngóng.
Cũng xin vấn an nhạc mẫu vạn phúc.
Người anh vụng về Thụy.” (4)


2. Nguyễn Thị Minh Khai, người đồng chí

Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy Bình, nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Võ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Minh Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930.(5)

Ở Hương Cảng, tại trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản, hằng ngày, vào buổi sáng, Minh Khai học chính trị do Lý Thụy đích thân truyền dạy. Từ đó nẩy sinh tình cảm nam nữ giữa hai người.(6) Tháng 4-1931, Minh Khai bị bắt ở Hương Cảng, đến đầu năm sau thì được thả ra. Trong khi đó, Lý Thụy cũng bị bắt ngày 6-6-1931 tại Cửu Long (Kowloon), gần Hương Cảng, rồi bị trục xuất đầu năm 1933. Lý Thụy qua Quảng Châu, lên Thượng Hải, đáp tàu đi Vladivostok, rồi đến Moscow trong cùng năm đó.

Ngày 25/7/1935, tại Moscow khai mạc Đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, Minh Khai và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. (8) CD

Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.(9): Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tại nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng...(10)


 
Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941), một trong những đảng viên đầu tiên của đảng CSĐD
Nguồn/Ảnh: Ho Chi Minh, A life, William J. Duiker/TTXVN

Theo lời con gái của bà Vera Vasilieva (bà nầy là một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng sản), kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Thành Tín viết lại trong sách Về ba ông thánh, thì trong thời gian diễn ra Đại hội nầy, ông Lin (tức Lý Thụy) hay ghé lại nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan. Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow.(11)

Sau Đại hội, Minh Khai ở lại Liên Xô và học ở Viện thợ thuyền Đông phương tức trường Stalin đến tháng 2-1937. Trong thời gian nầy, Quốc bị giữ lại Liên Xô và cũng học ở Viện thợ thuyền Đông phương. Năm 1938, Minh Khai qua Pháp, về Sài Gòn. Hai năm sau (1940), Khai bị bắt, bị lên án tử hình, và bị bắn tại Hóc Môn năm 1941. Theo tài liệu của đảng CSVN, Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức Lê Huy Doãn), và có với Phong một người con gái tên Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939. Trước khi làm vợ Lê Hồng Phong, những tài liệu trong tờ khai lý lịch và những câu chuyện do bà Sophia Quinn Judge đưa ra, cho thấy một thời Minh Khai đã là vợ của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh.

Nhà báo Thành Tín còn đi xa hơn nữa khi đặt câu hỏi biết đâu tên Minh (trong Hồ Chí Minh) là kỷ niệm về Minh Khai? Ngoài ra ông Hồ còn lấy tên là T. Lan để viết một quyển sách tự truyện tựa đề là Vừa đi đường vừa kể chuyện. Cũng theo tác giả Thành Tín, có thể chữ Lan cũng lấy từ Phan Lan, bí danh của Minh Khai khi ở Moscow.(12)


3. Đỗ Thị Lạc là ai?

 
Lê Hồng Phong, Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương từ 1935 đến 1936 (1902-1942)
Nguồn: wikimedia.org





Sau Đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được QTCS gởi về nước Việt Nam hoạt động, còn Nguyễn Tất Thành (hay Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc) ở lại hay bị giữ lại ở Liên Xô cho đến năm 1939, Thành được gởi về Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng Sản Đông Dương.

Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài Gòn, bị đày đi Côn Đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942. Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, ký giả của một tờ báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển. (13)

Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, và tổ chức Hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8 (tháng 5-1941), đưa Trường Chinh Đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí thư, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ. Cuối tháng 8-1942, Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.(14)

Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy lòng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn. Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự hợp tác quốc cộng lần thứ hai để chống Nhật. Tướng Tiêu Văn theo phương thức đó áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhau.

Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành Đại hội tại Liễu Châu ngày 28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam. Các phe phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy uỷ viên chính thức, một uỷ viên dự khuyết là Hồ Chí Minh, và ba uỷ viên giám sát.(15)

Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn mình, rất được Tiêu Văn tin cậy. Hồ đề nghị Tiêu Văn cho mình về nước cùng một số cán bộ đã được Trung Hoa huấn luyện, đem theo súng đạn, thuốc men và tiền bạc. Tiêu Văn đồng ý cho Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự Đại Kiều (gần Liễu Châu), cọng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944.

Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy, có Đỗ Thị Lạc tức “chị Thuần”. Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin.

Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. Sử gia Trần Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi cho biết Đỗ Thị Lạc đã có một người con gái với Hồ Chí Minh.(16) Do tình hình biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS (Office of Strategic Services), tức Sở Tình báo Chiến lược (Hoa Kỳ) dưới bí danh là Lucius vào tháng 3-1945.(17) Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn, rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó.

Chuyện tình giữa Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Nguyễn Thị Minh Khai, Tăng Tuyết Minh đều bị đảng CSVN giấu nhẹm, nên sau đó không còn dấu vết gì nữa. 


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/8/89/N%C3%B4ng_Th%E1%BB%8B_Xu%C3%A2n.jpg
Ông Hồ Chí Minh và bà Nông Thị Xuân
 4. Nông Thị Xuân, cô gái miền sơn cước
Sau khi hiệp định Geneva được ký kết ngày 20/7/1954, đất nước bị chia hai, hòa bình được tái lập, Hồ Chí Minh về Hà Nội làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Ban bảo vệ sức khỏe trung ương, chuyên trách về sức khỏe các nhân vật cao cấp, đã tuyển một phụ nữ thuộc “gia đình cách mạng” tên là Nông Thị Xuân, người làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng. Cô Xuân được đưa về Hà Nội sống với ông Hồ năm 1955. Lúc đó, ông Hồ đã khoảng 65 tuổi, còn cô Xuân 22 tuổi.
Sau vài tháng có thêm một em gái của cô Xuân tên là Vàng, và một em gái con cậu ruột là Nguyệt cũng được đưa theo. Cả ba được sắp đặt sinh sống trong ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông - Thợ Nhuộm, gần đường Quang Trung, Hà Nội.
Thông thường, để giữ bí mật về mối quan hệ giữa bà Xuân và ông Hồ, chính bộ trưởng bộ Công an của nhà cầm quyền Hà Nội là Trần Quốc Hoàn, tên thật là Nguyễn Cảnh (1916–1986), đưa cô Xuân vào gặp ông Hồ, rồi sau đó chở về.

Bà Xuân rất được ông Hồ ưa thích, và có với ông Hồ một người con trai năm 1956, đặt tên là Nguyễn Tất Trung, nhưng trước sau ông Hồ vẫn không cho bà Xuân vào ở phủ chủ tịch với ông, và không làm lễ cưới.

Thế rồi bỗng nhiên “vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm [Hà Nội]. Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng. Đó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần Quốc Hoàn...”(18)

Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tương đương với Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6/2/1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11/2/1957, bằng cách cho người đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư.

Điều nầy chứng tỏ thẩm quyền tối cao về chính trị tại Hà Nội lúc đó, hoặc Hồ Chí Minh, hoặc bộ chính trị trung ương đảng, hoặc cả hai bên, đã quyết định thanh toán bà Xuân, khi bà nầy muốn công khai hóa mối liên hệ giữa bà với ông Hồ, và đòi chính thức nhìn nhận đứa con, nên Trần Quốc Hoàn mới dám làm hỗn với bà Xuân trước khi giết. Người chứng kiến việc chị mình bị hãm hiếp và bị đem đi giết chết là cô Vàng, cũng bị thủ tiêu khoảng ngày 2 hay 3/11/1957.(19)

Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung mới một tuổi, mồ côi mẹ, được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi Trung bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng (1904–1979), bí danh Sao Đỏ, một lãnh tụ cộng sản Việt Nam. Năm bé Trung năm tuổi (1961), người ta lại chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôi. Chu Văn Tấn cùng sắc tộc Nùng với bà Xuân, là kẻ đứng ra tổ chức đơn vị cứu quốc quân đầu tiên của cộng sản ở vùng rừng núi Việt Bắc. Khi ông Hồ qua đời ngày 2-9-1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung.(20)

Nguyễn Tất Trung hiện khoảng 50 tuổi và sống ở Hà Nội. Cho đến nay, đảng CSVN hoàn toàn không lên tiếng về trường hợp Nguyễn Tất Trung, mà vẫn cứ cho học sinh Việt Nam học tập rằng ông Hồ độc thân, không có vợ và hy sinh cuộc đời cho cách mạng. Có lẽ đảng CSVN nên thử DNA xem Nguyễn Tất Trung có đúng con ông Hồ không? Nếu đúng thì đảng CSVN phải viết lại tiểu sử ông Hồ cho đúng sự thật, vì viết sai lịch sử thì học sinh ở trong nước hiện nay không thèm học sử, ít điểm về môn sử là phải. Chẳng những tiểu sử ông Hồ, mà toàn bộ lịch sử do cán bộ cộng sản viết cũng phải hiệu đính lại hết. Ngày nay, với phương tiện thông tin, tin học phát triển, các em học sinh hoặc gia đình các em biết rất rõ sự thật đã diễn ra trong quá khứ, nên những chuyện như thiếu trung thực như chuyện Trần Dân Tiên, hay chuyện “đuốc sống” Lê Văn Tám, không còn hấp dẫn học sinh nữa. Vì vậy các em chán học sử. Nhà cầm quyền Hà Nội phải tự nhận lỗi trước, đừng bóp méo, đừng bịa đặt lịch sử, chứ đừng chê các em học sinh Việt Nam dốt sử.

Trở lại chuyện ông Hồ mấy vợ, ngoài bốn nhân vật chính trên đây, theo tác giả Thành Tín, tức cựu đại tá Bùi Tín của quân đội cộng sản Hà Nội, trong cuộc đời Hồ Chí Minh còn có một vài cuộc tình nhỏ. Như khi còn ở Paris, ông Hồ có một người tình tên là Marie Bière; lúc sang Hoa Nam, ông Hồ yêu bà Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Lai. Sau đây là lời Thành Tín viết về hai “mối tình con” nầy của ông Hồ:

“...Theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó...” Ở một đoạn khác, Thành Tín tiếp : “...Theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ còn có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ; ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Véra Vasiliéva. Chị Sophia kể rằng con gái bà Véra Vasiliéva nhớ lại rằng anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm...”(21)

Theo giáo sư Nguyễn Thế Anh, trong bài “Hành trình chính trị của Hồ Chí Minh”, thì Nguyễn Ái Quốc, lúc làm nghề nhiếp ảnh ở Paris năm 1923, đã tỏ tình với cô Bourdon, nhưng bị cô nầy cự tuyệt. Cũng theo giáo sư Anh, khi Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, chính phủ Liên Xô cung cấp cho Quốc một bà vợ; và khi cảnh sát Hương Cảng bắt Nguyễn Ái Quốc tại Cửu Long ngày 6/6/1931, ông Quốc đang sống chung với một thiếu phụ tên là Li Sam.(22)

Sau hiệp định Genève, trước vụ cô Xuân, ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để điều hòa tâm sinh lý, giúp giữ gìn sức khỏe được tốt. Người ta chọn cho Hồ Chí Minh một nữ cán bộ trẻ đẹp là cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh uỷ viên tỉnh uỷ Thanh Hóa. Khi về Hà Nội gặp họ Hồ, cô Phương Mai đồng ý lấy ông Hồ với điều kiện là phải danh chánh ngôn thuận, nghĩa là phải làm lễ cưới công khai đàng hoàng. Ông Hồ và các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội cho rằng ông Hồ không lấy vợ thì có lợi cho uy tín chính trị hơn (?), nên cuối cùng việc cô Phương Mai không thành. Không muốn lấy vợ thì ông Hồ triệu cô Phương Mai ra Hà Nội làm gì? Phải chăng các lãnh tụ cộng sản Hà Nội sợ cô Phương Mai, một khi trở thành vợ của họ Hồ, sẽ tranh giành quyền lực nên cản trở vụ nầy? Về sau, cô Phương Mai được đưa lên làm thứ trưởng bộ Thương binh trong chính phủ Hà Nội.(23)

Qua các cuộc tình của Hồ Chí Minh, và nhất là qua sự kiện Nông Thị Xuân và Nguyễn Thị Phương Mai, người ta thấy rõ ông Hồ và cả đảng CSVN muốn ông ta có cơ hội giải quyết sinh lý của một con người bình thường, nhưng không chịu công khai hóa một cách danh chánh ngôn thuận đời sống vợ chồng, nhắm tạo cho ông ta thành huyền thoại về một siêu nhân suốt đời sống cô đơn, hy sinh bản thân cho đại cuộc của đất nước.

Đó là chưa kể chính bản thân của ông Hồ là một người say mê công danh đến cùng tột. Sự say mê đó được thể hiện rõ qua việc đảng Cộng Sản đã in cả hàng triệu quyển sách bằng tiếng Việt và bằng ngoại ngữ, để thần thánh hóa ông Hồ, mà ông vẫn chưa thỏa mãn. Ông ta còn lấy những bút hiệu khác để viết sách tự đề cao mình. Đó là hai quyển Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, bút hiệu Trần Dân Tiên, và Vừa đi vừa kể chuyện, bút hiệu T. Lan. Các danh nhân trên thế giới viết hồi ký kể lại quá trình hoạt động của mình là chuyện bình thường. Trong hồi ký của họ, đôi khi họ cũng ca ngợi chính bản thân họ, nhưng vấn đề là họ thẳng thắn tự đề tên thật, và chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Ngược lại, Hồ Chí Minh giấu mình qua những tên khác để tự ca tụng mình. Dưới tên Trần Dân Tiên, ông Hồ đã mở đầu sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch như sau:

“Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình...”

Sau đó, ông Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh tự đề cao mình: “...Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi [?] nghe bình sinh của người được?...”(24)

Trước phần kể chuyện của Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Sự Thật đã viết lời dẫn nhập như sau: “...Trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, Hồ Chủ Tịch đã nêu tấm gương đạo đức cách mạng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, quyết tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới...”(25)

Nhà xuất bản Sự Thật là cơ quan chuyên xuất bản sách vở kinh điển của Trung ương đảng Cộng Sản, không thể không biết rõ lai lịch của quyển sách, lý lịch của người viết. Nếu nhà xuất bản Sự Thật không biết sách của ai, hoặc tác giả chỉ là một nhà báo tầm thường không tên tuổi như Trần Dân Tiên hoặc T. Lan, thì chắc chắn không bao giờ sách được nhà xuất bản Sự Thật in ra. Do đó, chắc chắn nhà xuất bản Sự Thật biết Trần Dân Tiên và T. Lan là Hồ Chí Minh, mới dám in hai quyển trên. Chẳng những sách được in trong nước, mà các sách nầy còn được nhà xuất bản Ngoại Văn của nhà nước Hà Nội dịch thành nhiều thứ tiếng khác nhau, để phát hành khắp trên thế giới.

Đây không phải chỉ là ý đồ cá nhân của Hồ Chí Minh mà còn là chủ tâm của toàn đảng CSVN nhắm suy tôn lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh, để đánh lừa chẳng những đồng bào Việt Nam ở trong nước, mà còn cả toàn thể dư luận thế giới trong thời gian chiến tranh trước đây.

Hồ Chí Minh cũng chỉ là một con người bình thường như mọi người, có vợ có con, kể cả việc có nhiều vợ hoặc người tình cũng không có gì lạ. Hiện tượng đa thê rất phổ thông trong xã hội, nhất là xã hội nước ta cho đến giữa thế kỷ 20. Vấn đề là tham vọng trở thành một siêu lãnh tụ chính trị đã thúc đẩy ông Hồ giấu tất cả những quan hệ tình cảm cá nhân, chối bỏ trách nhiệm làm chồng, làm cha, rồi lại có lúc đối xử tàn bạo với người đã từng là vợ mình, để xóa bỏ mọi dấu tích liên hệ tình cảm.

Cung cách hành xử của ông Hồ có thể do ông học được từ kinh nghiệm của Karl Marx (1818-1883), người đã cùng Friedrich Engels (1820–1895) tung ra bản Tuyên ngôn Quốc tế Cộng sản năm 1848, bênh vực giai cấp công nhân nghèo khổ, tiếng tăm lừng lẫy trên thế giới. Từ năm 1849, trong thời kỳ sinh sống ở London (Anh) cho đến khi từ trần, Karl Marx có một người con trai ngoại hôn sinh năm 1851, với một phụ nữ giúp việc trong nhà tên là Helene Demuth. Người giúp việc nầy do bà mẹ vợ, vốn là quý tộc Đức, vì thương con gái, gởi qua từ Đức. Người con trai ngoại hôn của Marx tên là Frederick Lewis (Henry) Demuth (1851–1929). Chẳng những Karl Marx không thừa nhận Frederick mà còn buộc bà Helene phải trục xuất đứa con ra khỏi nhà. Dư luận cho rằng Marx sợ sự có mặt của người con làm giảm uy tín ông ta.(26)

Karl Marx ngoại tình hay có con ngoại hôn là cũng là chuyện bình thường. Chuyện bất bình thường ở đây là Marx, ông tổ của lý thuyết cộng sản, chủ trương bênh vực quyền lợi giai cấp công nhân vô sản nghèo khổ, yêu và cưới một cô gái quý tộc, sau đó phản bội vợ và ngoại tình, lấy một phụ nữ nghèo khổ, rồi lại thiếu chung thủy với người tình công nhân nghèo, và đuổi người con của chính mình ra khỏi nhà. Người con nầy phải mang họ mẹ, sống tăm tối không tương lai. Điều đặc biệt hơn nữa, các tổ chức cộng sản quốc tế giấu nhẹm việc nầy, mãi đến đầu thập niên 70 mới được phát hiện.(27)

Ông tổ cộng sản mà còn vậy, thì những đệ tử như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, noi theo đúng “sách” thì cũng không lấy làm lạ. Riêng ông Hồ hành xử như vậy chẳng qua vì quá ham danh vọng và quyền lực, nhắm tự tạo cho mình hình ảnh của một lãnh tụ độc thân, trong sạch, hy sinh cá nhân, để suốt đời tận tụy lo toan việc nước, nhắm lôi cuốn quần chúng đi theo đường lối cộng sản của ông ta.

Huyền thoại nầy rất cần thiết để xây dựng chế độ độc tài, nên ông Hồ và các đảng viên thân tín của ông càng ra sức gia công phát huy rộng rãi huyền thoại nầy cho những toan tính của đảng Cộng Sản. Một khi nhà lãnh tụ vong thân trong huyền thoại, thì họ không còn được cuộc sống bình thường của con người bình thường, mà nhất nhất đều phải theo sự điều hành trong guồng máy của chủ nghĩa độc tài. Do đó, khi trở thành lãnh tụ nhà nước ở Hà Nội, ông Hồ muốn quyết định bất cứ việc gì, dù có tính cách riêng tư, cũng đều có ý kiến của bộ chính trị đảng Cộng Sản, tức là nhóm lãnh đạo cao cấp trong đảng Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ. Vì thế mới có chuyện đảng Cộng Sản đi tìm phụ nữ cho Hồ Chí Minh. Tuy nhiên một khi các cô gái muốn chính danh, đòi hợp thức hóa bằng hôn lễ công khai, thì lại thoái thác rằng “bác” không lấy vợ để có lợi cho uy tín chính trị hơn.

Trong chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam, không phải chỉ có một trường hợp điển hình là Hồ Chí Minh, mà có thể còn nhiều khuôn mặt khác nữa... Hiện tượng nầy cũng không phải chỉ riêng ở Việt Nam mà là một hiện tượng chung của thế giới cộng sản. Lý do chính là trong thế giới cộng sản, không có cơ chế dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí. Từ đó không có sự chế tài đối với các lãnh tụ. Các lãnh tụ vượt ra ngoài vòng dư luận, đứng trên luật pháp, tự cho mình có quyền làm bất cứ điều gì mình thích, không sợ sự phê bình của dân chúng, cũng không sợ sự chế tài của luật pháp. Điều nầy đưa đến nhiều hậu quả tai hại rộng lớn và lâu dài cho đất nước, khiến đất nước càng ngày càng đi xuống thê thảm như tình trạng Việt Nam chúng ta ngày nay.

13-09-2006
Toronto, Canada

Trần Gia Phụng

________________________________

Chú thích

(1): Hoàng Tranh (Huang Zheng), “Hồ Chí Minh với bà vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh”, đăng trên tạp chí Đông Nam Á Tung Hoành (Trung Hoa) tháng 11-2001. Báo Diễn Đàn, Paris, số 121, tháng 9-2002 dịch đăng lại, tt. 17-20.
(2): Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l ' Indochine au Vietnam (Hồ chí Minh, từ Đông Dương đến Việt Na), Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tr. 145.
(3): Hoàng Tranh, bđd.
(4): Daniel Hémery, sđd. tr. 145. Báo Tuổi Trẻ của Thành đoàn Thanh niên CSHCM thành phố Hồ Chí Minh (tức Sài Gòn cũ) đã trích đăng lại tài liệu của Daniel Hémery trong số báo ngày 18-5-1991. Tổng biên tập báo nầy lúc đó là bà Kim Hạnh liền bị kiểm điểm và bị mất chức.
(5): Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Văn Hóa, Houston, Texas, 1997, tr. 380.
(6): Thành Tín, Về ba ông thánh, 1995, California, tr. 150-151. Thành Tín dựa vào danh sách trong một lá thư từ văn phòng cộng sản ở Hồng Kông gởi về Moscow ghi danh sáu đại biểu trong phái đoàn Đông Dương về dự đại hội của cộng sản quốc tế năm 1935. Kao Bang là Hoàng Văn Nọn tức Tú Huy hay Văn Tân.
(7): Thành Tín, sđd.
(8): Chính Đạo, sđd. tr. 380. Thành Tín, sđd. tr. 151.
(9): Thành Tín, sđd. tr. 136, 151-152. Từ giả thiết nầy, phải chăng có thể chữ T. viết tắt từ chữ “Thương”. T. Lan có nghĩa là “Thương Lan”. Ngoài ra chữ “Minh” cũng có thể phát xuất từ tên bà Tăng Tuyết Minh?
(10): Thành Tín, sđd.
(11): Thành Tín, sđd.
(12): Thành Tín, sđd.
(13): Chính Đạo, sđd. tr. 161. Theo Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng CSVN, Thành mang tên Hồ Chí Minh từ ngày 13-8-1942, nhưng theo tác giả King C. Chen (Trung Hoa), trong sách Vietnam and China, 1938-1954, Princeton Univ Press, Princeton, 1969, tt. 56-57, thì Hồ Chí Minh bị bắt năm 1942 tại Liễu Châu vì một giấy thông hành đã quá hạng được cấp năm 1940 mang tên Hồ Chí Minh.
(14): Chính Đạo, sđd. tr. 283.
(15): Chính Đạo, sđd. tr. 301. Bảy uỷ viên chính thức là: Trương Bội Công, Trương Trung Phụng (QĐD), Trần Báo (QĐD), Bồ Xuân Luật (Phục Quốc), Nghiêm Kế Tổ (QĐD), Lê Tùng Sơn (Giải Phóng, Côn Minh), và Trần Đình Xuyên. Ba uỷ viên giám sát là: Nguyễn Hải Thần (Đồng Minh Hội), Vũ Hồng Khanh (QĐD), và Nông Kính Du (Phục Quốc).
(16): Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn, 1969, tr. 75.
(17): Tiếng Latin, Lucius là tên đàn ông, Lucia là tên phụ nữ; cả hai do chữ “Lux” mà ra. “Lux” nghĩa là “ánh sáng”, có thể bắt nguồn từ chữ “Quang” hoặc chữ “Minh” đều gần nghĩa với ánh sáng.
(18): Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 607. Về vụ bà Xuân, xin xem thêm nguyệt san Thế Kỷ 21, Garden Grove, số 96, tháng 4-1997, bài “Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ Chí Minh”, của Nguyễn Minh Cần, tt. 33-40.
(19): Nguyễn Minh Cần, báo đd. tt. 37-38.
(20): Nguyễn Minh Cần, sđd.
(21): Thành Tín, sđd. tt. 149, 152.
(22): Nguyễn Thế Anh, “Hành trình chính trị của Hồ Chí Minh”, đăng trong sách do nhiều người viết, Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Nam Á, Paris, 1990, tt. 21-52. Giáo sư Nguyễn Thế Anh căn cứ trên tài liệu lưu trữ tại “Trung tâm văn khố hải ngoại, kho Slotform II/ 14”, và tài liệu của Denis Duncanson, “Ho Chi Minh in Hongkong 1931-1932”, The China Quarterly, Jan-March, 1974, tr. 79.
(23): Nguyễn Minh Cần, báo đd. tt. 36-37.
(24): Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, in lần thứ hai, 1976, tt. 5, 7 và 9. Ngày nay, trong các thư viện trong nước, khi tra cứu về tác giả Trần Dân Tiên hay T. Lan, thư mục ghi rõ : “Xin xem chủ tịch Hồ Chí Minh”.
(24): Trần Dân Tiên, sđd.
(26): Encyclopaedia Britannica, vol. 14, U. S. A. 1972, mục: Marx, Karl Heinrich, tr. 987-988. Alvin W. Gouldner, The Dialectic of Ideology and Technology, Oxford University Press, New York, 1976, tr. 104. Tác giả A .W. Gouldner (1920-1981) thương cảm trường hợp của Frederick Lewis (Henry) Demuth, nên ông đã đề tặng sách nầy cho Frederick vào đầu sách. Sách nầy là quyển đầu trong bộ sách The Dark Side of the Dialectic, gồm ba quyển. Quyển thứ nhì là The Future of Intellectuals and the Rise of the New Class (1979, và quyển thứ ba là The Two Marxisms : Contradictions and Anomalies in the Development of Theory (1980).
(27): Sau khi chế độ cộng sản Liên Xô sụp đổ năm 1991, tài liệu các lãnh tụ được công bố, người ta được biết nhiều chuyện thâm cung bí sử của Lenin, Stalin đã bị giấu nhẹm trước đó. Về Mao Trạch Đông, xin đọc Bí mật cuộc đời Mao Trạch Đông, do bác sĩ riêng của họ Mao là Lý Phục Hưng viết, Nxb. Thế Giới (chuyển ngữ), California, 1995. 

© 2006 DCVOnline
03:09 Unknown

Lời nói đầu: Sau khi các báo đăng bài viết của tôi nhan đề “Sự thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương”, thì có một độc giả nhận là du học sinh Việt Nam, đã e-mail hỏi tôi về việc gia đình và vợ con của Hồ Chí Minh. Câu hỏi nầy trùng với đề tài một bài báo tôi đã viết và đăng trên Thế Kỷ 21 ở California gần mười năm trước. Tôi hiệu đính và đăng lại bài nầy, hy vọng để cung cấp cho các bạn trẻ thêm một số thông tin về đời sống Hồ Chí Minh mà trong nước cấm kỵ và bưng bít.
Một người đến tuổi trưởng thành, lập gia đình là chuyện bình thường. Hồ Chí Minh là một con người như mọi người. Do đó, nếu Hồ Chí Minh lấy vợ thì không có gì đáng nói. Tuy nhiên, bản thân Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) luôn luôn xưng tụng ông Hồ là một người chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước nên không có thời giờ lập gia đình, và không có vợ con. Sự thật không phải như thế. Tài liệu cho thấy rằng ít nhất ông Hồ đã bốn lần lấy vợ.

1. Tăng Tuyết Minh, ngượi vợ đầu
 
Tăng Tuyết Minh: thời xuân sắc và lúc tuổi già mòn mỏi đợi chờ (với ảnh vẫn trên tường)
Nguồn: dprk-cn.com

Tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc, tên của ông Hồ thời mới qua Liên Xô, rời Moscow đi Vladivostok (Hải Sâm Uy), hải cảng cực đông Liên Xô, trên bờ biển Thái Bình Dương. Từ đây, ông đáp tàu thủy, xuống tới Quảng Châu khoảng giữa tháng 11-1924, với bí danh Lý Thụy, một công dân Trung Hoa, làm thư ký kiêm thông ngôn trong phái đoàn cố vấn Borodine (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh quốc cộng lần thứ nhất ở Trung Hoa.

Trong thời gian sống tại Quảng Châu, ngoài những hoạt động chính trị, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc), Uỷ viên Đông phương bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), đã kết hôn với một nữ đảng viên CSTH là Tăng Tuyết Minh (1905-1991) ngày 18-10-1926. Lễ kết hôn diễn ra tại nhà hàng Thái Bình ở trung tâm thành phố Quảng Châu với sự hiện diện của các bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ ông Chu Ân Lai), Bào La Đình, Thái Sướng. Hai người chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng bùng nổ ngày 12-4-1927.(1) Lý Thụy trốn đi Vũ Hán, đến Thượng Hải, theo đường biển lên Vladivostok (Hải Sâm Uy), qua Moscow khoảng giữa tháng 6 năm 1927.

Cuối năm 1927, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc) được ĐTQTCS chuyển qua hoạt động ở Tây Âu một thời gian ngắn, rồi đến Ý. Tại đây, ông được gởi qua Xiêm La (Thái Lan) và ông đến Xiêm tháng 8-1928. Trong thời gian họat động ở Xiêm La, Lý Thụy có gởi cho Tăng Tuyết Minh một lá thư bằng chữ Nho, bị mật thám Pháp phát hiện ngày 14-8-1928, nên thư không đến tay người nhận(2)

Vào tháng 5-1950, nhìn thấy hình Hồ Chí Minh trên Nhân Dân Nhật Báo (Trung Hoa), bà Tăng Tuyết Minh gởi nhiều lá thư cho ông Hồ, thông qua đại sứ Việt Minh ở Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan, nhưng đều không được trả lời. Sau năm 1954, bà Tăng Tuyết Minh xin qua Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, cũng bị từ chối. (3)


 
Thư Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng (Công an) Đông Dương phát hiện ngày 14/8/1928
Nguồn: Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l'Indochine au Vietnam

Nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội phủ nhận mối quan hệ giữa Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh. Họ cho rằng nếu lá thư có thật, chẳng qua là Lý Thụy thường thông tin với các đồng chí dưới dạng thư tình để qua mặt giới tình báo của các nước tại Quảng Châu, Trung Hoa. Sự phản bác nầy không hữu lý, vì chú ý đọc kỹ lá thư với lời lẽ rất thân thiết lãng mạn (muội, huynh, tình thâm), thì không thể là thư liên lạc bình thường.

Sau đây là lá thư Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng (Công an) Đông Dương phát hiện ngày 14/8/1928:
“Dữ muội tương biệt,
Chuyển thuấn niên dư,
Hoài niệm tình thâm,
Bất ngôn tự hiểu.
Từ nhân hồng tiện,
Dao ký thốn tiên,
Tỷ muội an tâm,
Thị ngã da vọng.
Tịnh thỉnh nhạc mẫu vạn phúc.
Chuyết huynh Thụy.”

Tạm dịch:

“Cùng em chia tay nhau,
Thấm thoát nháy mắt đã hơn năm,
Nhớ nhung tình sâu,
Không nói cũng tự biết.
Nay nhân gởi tin hồng nhạn,
Xa xôi gởi lá thư mang tấm lòng,
Mong em yên tâm,
Là điều anh trông ngóng.
Cũng xin vấn an nhạc mẫu vạn phúc.
Người anh vụng về Thụy.” (4)


2. Nguyễn Thị Minh Khai, người đồng chí

Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy Bình, nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Võ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Minh Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930.(5)

Ở Hương Cảng, tại trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản, hằng ngày, vào buổi sáng, Minh Khai học chính trị do Lý Thụy đích thân truyền dạy. Từ đó nẩy sinh tình cảm nam nữ giữa hai người.(6) Tháng 4-1931, Minh Khai bị bắt ở Hương Cảng, đến đầu năm sau thì được thả ra. Trong khi đó, Lý Thụy cũng bị bắt ngày 6-6-1931 tại Cửu Long (Kowloon), gần Hương Cảng, rồi bị trục xuất đầu năm 1933. Lý Thụy qua Quảng Châu, lên Thượng Hải, đáp tàu đi Vladivostok, rồi đến Moscow trong cùng năm đó.

Ngày 25/7/1935, tại Moscow khai mạc Đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, Minh Khai và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. (8) CD

Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.(9): Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tại nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng...(10)


 
Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941), một trong những đảng viên đầu tiên của đảng CSĐD
Nguồn/Ảnh: Ho Chi Minh, A life, William J. Duiker/TTXVN

Theo lời con gái của bà Vera Vasilieva (bà nầy là một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng sản), kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Thành Tín viết lại trong sách Về ba ông thánh, thì trong thời gian diễn ra Đại hội nầy, ông Lin (tức Lý Thụy) hay ghé lại nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan. Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow.(11)

Sau Đại hội, Minh Khai ở lại Liên Xô và học ở Viện thợ thuyền Đông phương tức trường Stalin đến tháng 2-1937. Trong thời gian nầy, Quốc bị giữ lại Liên Xô và cũng học ở Viện thợ thuyền Đông phương. Năm 1938, Minh Khai qua Pháp, về Sài Gòn. Hai năm sau (1940), Khai bị bắt, bị lên án tử hình, và bị bắn tại Hóc Môn năm 1941. Theo tài liệu của đảng CSVN, Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức Lê Huy Doãn), và có với Phong một người con gái tên Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939. Trước khi làm vợ Lê Hồng Phong, những tài liệu trong tờ khai lý lịch và những câu chuyện do bà Sophia Quinn Judge đưa ra, cho thấy một thời Minh Khai đã là vợ của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh.

Nhà báo Thành Tín còn đi xa hơn nữa khi đặt câu hỏi biết đâu tên Minh (trong Hồ Chí Minh) là kỷ niệm về Minh Khai? Ngoài ra ông Hồ còn lấy tên là T. Lan để viết một quyển sách tự truyện tựa đề là Vừa đi đường vừa kể chuyện. Cũng theo tác giả Thành Tín, có thể chữ Lan cũng lấy từ Phan Lan, bí danh của Minh Khai khi ở Moscow.(12)


3. Đỗ Thị Lạc là ai?

 
Lê Hồng Phong, Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương từ 1935 đến 1936 (1902-1942)
Nguồn: wikimedia.org





Sau Đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được QTCS gởi về nước Việt Nam hoạt động, còn Nguyễn Tất Thành (hay Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc) ở lại hay bị giữ lại ở Liên Xô cho đến năm 1939, Thành được gởi về Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng Sản Đông Dương.

Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài Gòn, bị đày đi Côn Đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942. Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, ký giả của một tờ báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển. (13)

Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, và tổ chức Hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8 (tháng 5-1941), đưa Trường Chinh Đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí thư, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ. Cuối tháng 8-1942, Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.(14)

Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy lòng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn. Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự hợp tác quốc cộng lần thứ hai để chống Nhật. Tướng Tiêu Văn theo phương thức đó áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhau.

Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành Đại hội tại Liễu Châu ngày 28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam. Các phe phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy uỷ viên chính thức, một uỷ viên dự khuyết là Hồ Chí Minh, và ba uỷ viên giám sát.(15)

Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn mình, rất được Tiêu Văn tin cậy. Hồ đề nghị Tiêu Văn cho mình về nước cùng một số cán bộ đã được Trung Hoa huấn luyện, đem theo súng đạn, thuốc men và tiền bạc. Tiêu Văn đồng ý cho Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự Đại Kiều (gần Liễu Châu), cọng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944.

Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy, có Đỗ Thị Lạc tức “chị Thuần”. Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin.

Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. Sử gia Trần Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi cho biết Đỗ Thị Lạc đã có một người con gái với Hồ Chí Minh.(16) Do tình hình biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS (Office of Strategic Services), tức Sở Tình báo Chiến lược (Hoa Kỳ) dưới bí danh là Lucius vào tháng 3-1945.(17) Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn, rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó.

Chuyện tình giữa Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Nguyễn Thị Minh Khai, Tăng Tuyết Minh đều bị đảng CSVN giấu nhẹm, nên sau đó không còn dấu vết gì nữa. 


https://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/8/89/N%C3%B4ng_Th%E1%BB%8B_Xu%C3%A2n.jpg
Ông Hồ Chí Minh và bà Nông Thị Xuân
 4. Nông Thị Xuân, cô gái miền sơn cước
Sau khi hiệp định Geneva được ký kết ngày 20/7/1954, đất nước bị chia hai, hòa bình được tái lập, Hồ Chí Minh về Hà Nội làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Ban bảo vệ sức khỏe trung ương, chuyên trách về sức khỏe các nhân vật cao cấp, đã tuyển một phụ nữ thuộc “gia đình cách mạng” tên là Nông Thị Xuân, người làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng. Cô Xuân được đưa về Hà Nội sống với ông Hồ năm 1955. Lúc đó, ông Hồ đã khoảng 65 tuổi, còn cô Xuân 22 tuổi.
Sau vài tháng có thêm một em gái của cô Xuân tên là Vàng, và một em gái con cậu ruột là Nguyệt cũng được đưa theo. Cả ba được sắp đặt sinh sống trong ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông - Thợ Nhuộm, gần đường Quang Trung, Hà Nội.
Thông thường, để giữ bí mật về mối quan hệ giữa bà Xuân và ông Hồ, chính bộ trưởng bộ Công an của nhà cầm quyền Hà Nội là Trần Quốc Hoàn, tên thật là Nguyễn Cảnh (1916–1986), đưa cô Xuân vào gặp ông Hồ, rồi sau đó chở về.

Bà Xuân rất được ông Hồ ưa thích, và có với ông Hồ một người con trai năm 1956, đặt tên là Nguyễn Tất Trung, nhưng trước sau ông Hồ vẫn không cho bà Xuân vào ở phủ chủ tịch với ông, và không làm lễ cưới.

Thế rồi bỗng nhiên “vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm [Hà Nội]. Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng. Đó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần Quốc Hoàn...”(18)

Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tương đương với Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6/2/1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11/2/1957, bằng cách cho người đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư.

Điều nầy chứng tỏ thẩm quyền tối cao về chính trị tại Hà Nội lúc đó, hoặc Hồ Chí Minh, hoặc bộ chính trị trung ương đảng, hoặc cả hai bên, đã quyết định thanh toán bà Xuân, khi bà nầy muốn công khai hóa mối liên hệ giữa bà với ông Hồ, và đòi chính thức nhìn nhận đứa con, nên Trần Quốc Hoàn mới dám làm hỗn với bà Xuân trước khi giết. Người chứng kiến việc chị mình bị hãm hiếp và bị đem đi giết chết là cô Vàng, cũng bị thủ tiêu khoảng ngày 2 hay 3/11/1957.(19)

Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung mới một tuổi, mồ côi mẹ, được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi Trung bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng (1904–1979), bí danh Sao Đỏ, một lãnh tụ cộng sản Việt Nam. Năm bé Trung năm tuổi (1961), người ta lại chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôi. Chu Văn Tấn cùng sắc tộc Nùng với bà Xuân, là kẻ đứng ra tổ chức đơn vị cứu quốc quân đầu tiên của cộng sản ở vùng rừng núi Việt Bắc. Khi ông Hồ qua đời ngày 2-9-1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung.(20)

Nguyễn Tất Trung hiện khoảng 50 tuổi và sống ở Hà Nội. Cho đến nay, đảng CSVN hoàn toàn không lên tiếng về trường hợp Nguyễn Tất Trung, mà vẫn cứ cho học sinh Việt Nam học tập rằng ông Hồ độc thân, không có vợ và hy sinh cuộc đời cho cách mạng. Có lẽ đảng CSVN nên thử DNA xem Nguyễn Tất Trung có đúng con ông Hồ không? Nếu đúng thì đảng CSVN phải viết lại tiểu sử ông Hồ cho đúng sự thật, vì viết sai lịch sử thì học sinh ở trong nước hiện nay không thèm học sử, ít điểm về môn sử là phải. Chẳng những tiểu sử ông Hồ, mà toàn bộ lịch sử do cán bộ cộng sản viết cũng phải hiệu đính lại hết. Ngày nay, với phương tiện thông tin, tin học phát triển, các em học sinh hoặc gia đình các em biết rất rõ sự thật đã diễn ra trong quá khứ, nên những chuyện như thiếu trung thực như chuyện Trần Dân Tiên, hay chuyện “đuốc sống” Lê Văn Tám, không còn hấp dẫn học sinh nữa. Vì vậy các em chán học sử. Nhà cầm quyền Hà Nội phải tự nhận lỗi trước, đừng bóp méo, đừng bịa đặt lịch sử, chứ đừng chê các em học sinh Việt Nam dốt sử.

Trở lại chuyện ông Hồ mấy vợ, ngoài bốn nhân vật chính trên đây, theo tác giả Thành Tín, tức cựu đại tá Bùi Tín của quân đội cộng sản Hà Nội, trong cuộc đời Hồ Chí Minh còn có một vài cuộc tình nhỏ. Như khi còn ở Paris, ông Hồ có một người tình tên là Marie Bière; lúc sang Hoa Nam, ông Hồ yêu bà Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Lai. Sau đây là lời Thành Tín viết về hai “mối tình con” nầy của ông Hồ:

“...Theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó...” Ở một đoạn khác, Thành Tín tiếp : “...Theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ còn có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ; ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Véra Vasiliéva. Chị Sophia kể rằng con gái bà Véra Vasiliéva nhớ lại rằng anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm...”(21)

Theo giáo sư Nguyễn Thế Anh, trong bài “Hành trình chính trị của Hồ Chí Minh”, thì Nguyễn Ái Quốc, lúc làm nghề nhiếp ảnh ở Paris năm 1923, đã tỏ tình với cô Bourdon, nhưng bị cô nầy cự tuyệt. Cũng theo giáo sư Anh, khi Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, chính phủ Liên Xô cung cấp cho Quốc một bà vợ; và khi cảnh sát Hương Cảng bắt Nguyễn Ái Quốc tại Cửu Long ngày 6/6/1931, ông Quốc đang sống chung với một thiếu phụ tên là Li Sam.(22)

Sau hiệp định Genève, trước vụ cô Xuân, ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để điều hòa tâm sinh lý, giúp giữ gìn sức khỏe được tốt. Người ta chọn cho Hồ Chí Minh một nữ cán bộ trẻ đẹp là cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh uỷ viên tỉnh uỷ Thanh Hóa. Khi về Hà Nội gặp họ Hồ, cô Phương Mai đồng ý lấy ông Hồ với điều kiện là phải danh chánh ngôn thuận, nghĩa là phải làm lễ cưới công khai đàng hoàng. Ông Hồ và các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội cho rằng ông Hồ không lấy vợ thì có lợi cho uy tín chính trị hơn (?), nên cuối cùng việc cô Phương Mai không thành. Không muốn lấy vợ thì ông Hồ triệu cô Phương Mai ra Hà Nội làm gì? Phải chăng các lãnh tụ cộng sản Hà Nội sợ cô Phương Mai, một khi trở thành vợ của họ Hồ, sẽ tranh giành quyền lực nên cản trở vụ nầy? Về sau, cô Phương Mai được đưa lên làm thứ trưởng bộ Thương binh trong chính phủ Hà Nội.(23)

Qua các cuộc tình của Hồ Chí Minh, và nhất là qua sự kiện Nông Thị Xuân và Nguyễn Thị Phương Mai, người ta thấy rõ ông Hồ và cả đảng CSVN muốn ông ta có cơ hội giải quyết sinh lý của một con người bình thường, nhưng không chịu công khai hóa một cách danh chánh ngôn thuận đời sống vợ chồng, nhắm tạo cho ông ta thành huyền thoại về một siêu nhân suốt đời sống cô đơn, hy sinh bản thân cho đại cuộc của đất nước.

Đó là chưa kể chính bản thân của ông Hồ là một người say mê công danh đến cùng tột. Sự say mê đó được thể hiện rõ qua việc đảng Cộng Sản đã in cả hàng triệu quyển sách bằng tiếng Việt và bằng ngoại ngữ, để thần thánh hóa ông Hồ, mà ông vẫn chưa thỏa mãn. Ông ta còn lấy những bút hiệu khác để viết sách tự đề cao mình. Đó là hai quyển Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, bút hiệu Trần Dân Tiên, và Vừa đi vừa kể chuyện, bút hiệu T. Lan. Các danh nhân trên thế giới viết hồi ký kể lại quá trình hoạt động của mình là chuyện bình thường. Trong hồi ký của họ, đôi khi họ cũng ca ngợi chính bản thân họ, nhưng vấn đề là họ thẳng thắn tự đề tên thật, và chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Ngược lại, Hồ Chí Minh giấu mình qua những tên khác để tự ca tụng mình. Dưới tên Trần Dân Tiên, ông Hồ đã mở đầu sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch như sau:

“Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình...”

Sau đó, ông Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh tự đề cao mình: “...Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi [?] nghe bình sinh của người được?...”(24)

Trước phần kể chuyện của Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Sự Thật đã viết lời dẫn nhập như sau: “...Trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, Hồ Chủ Tịch đã nêu tấm gương đạo đức cách mạng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, quyết tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới...”(25)

Nhà xuất bản Sự Thật là cơ quan chuyên xuất bản sách vở kinh điển của Trung ương đảng Cộng Sản, không thể không biết rõ lai lịch của quyển sách, lý lịch của người viết. Nếu nhà xuất bản Sự Thật không biết sách của ai, hoặc tác giả chỉ là một nhà báo tầm thường không tên tuổi như Trần Dân Tiên hoặc T. Lan, thì chắc chắn không bao giờ sách được nhà xuất bản Sự Thật in ra. Do đó, chắc chắn nhà xuất bản Sự Thật biết Trần Dân Tiên và T. Lan là Hồ Chí Minh, mới dám in hai quyển trên. Chẳng những sách được in trong nước, mà các sách nầy còn được nhà xuất bản Ngoại Văn của nhà nước Hà Nội dịch thành nhiều thứ tiếng khác nhau, để phát hành khắp trên thế giới.

Đây không phải chỉ là ý đồ cá nhân của Hồ Chí Minh mà còn là chủ tâm của toàn đảng CSVN nhắm suy tôn lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh, để đánh lừa chẳng những đồng bào Việt Nam ở trong nước, mà còn cả toàn thể dư luận thế giới trong thời gian chiến tranh trước đây.

Hồ Chí Minh cũng chỉ là một con người bình thường như mọi người, có vợ có con, kể cả việc có nhiều vợ hoặc người tình cũng không có gì lạ. Hiện tượng đa thê rất phổ thông trong xã hội, nhất là xã hội nước ta cho đến giữa thế kỷ 20. Vấn đề là tham vọng trở thành một siêu lãnh tụ chính trị đã thúc đẩy ông Hồ giấu tất cả những quan hệ tình cảm cá nhân, chối bỏ trách nhiệm làm chồng, làm cha, rồi lại có lúc đối xử tàn bạo với người đã từng là vợ mình, để xóa bỏ mọi dấu tích liên hệ tình cảm.

Cung cách hành xử của ông Hồ có thể do ông học được từ kinh nghiệm của Karl Marx (1818-1883), người đã cùng Friedrich Engels (1820–1895) tung ra bản Tuyên ngôn Quốc tế Cộng sản năm 1848, bênh vực giai cấp công nhân nghèo khổ, tiếng tăm lừng lẫy trên thế giới. Từ năm 1849, trong thời kỳ sinh sống ở London (Anh) cho đến khi từ trần, Karl Marx có một người con trai ngoại hôn sinh năm 1851, với một phụ nữ giúp việc trong nhà tên là Helene Demuth. Người giúp việc nầy do bà mẹ vợ, vốn là quý tộc Đức, vì thương con gái, gởi qua từ Đức. Người con trai ngoại hôn của Marx tên là Frederick Lewis (Henry) Demuth (1851–1929). Chẳng những Karl Marx không thừa nhận Frederick mà còn buộc bà Helene phải trục xuất đứa con ra khỏi nhà. Dư luận cho rằng Marx sợ sự có mặt của người con làm giảm uy tín ông ta.(26)

Karl Marx ngoại tình hay có con ngoại hôn là cũng là chuyện bình thường. Chuyện bất bình thường ở đây là Marx, ông tổ của lý thuyết cộng sản, chủ trương bênh vực quyền lợi giai cấp công nhân vô sản nghèo khổ, yêu và cưới một cô gái quý tộc, sau đó phản bội vợ và ngoại tình, lấy một phụ nữ nghèo khổ, rồi lại thiếu chung thủy với người tình công nhân nghèo, và đuổi người con của chính mình ra khỏi nhà. Người con nầy phải mang họ mẹ, sống tăm tối không tương lai. Điều đặc biệt hơn nữa, các tổ chức cộng sản quốc tế giấu nhẹm việc nầy, mãi đến đầu thập niên 70 mới được phát hiện.(27)

Ông tổ cộng sản mà còn vậy, thì những đệ tử như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, noi theo đúng “sách” thì cũng không lấy làm lạ. Riêng ông Hồ hành xử như vậy chẳng qua vì quá ham danh vọng và quyền lực, nhắm tự tạo cho mình hình ảnh của một lãnh tụ độc thân, trong sạch, hy sinh cá nhân, để suốt đời tận tụy lo toan việc nước, nhắm lôi cuốn quần chúng đi theo đường lối cộng sản của ông ta.

Huyền thoại nầy rất cần thiết để xây dựng chế độ độc tài, nên ông Hồ và các đảng viên thân tín của ông càng ra sức gia công phát huy rộng rãi huyền thoại nầy cho những toan tính của đảng Cộng Sản. Một khi nhà lãnh tụ vong thân trong huyền thoại, thì họ không còn được cuộc sống bình thường của con người bình thường, mà nhất nhất đều phải theo sự điều hành trong guồng máy của chủ nghĩa độc tài. Do đó, khi trở thành lãnh tụ nhà nước ở Hà Nội, ông Hồ muốn quyết định bất cứ việc gì, dù có tính cách riêng tư, cũng đều có ý kiến của bộ chính trị đảng Cộng Sản, tức là nhóm lãnh đạo cao cấp trong đảng Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ. Vì thế mới có chuyện đảng Cộng Sản đi tìm phụ nữ cho Hồ Chí Minh. Tuy nhiên một khi các cô gái muốn chính danh, đòi hợp thức hóa bằng hôn lễ công khai, thì lại thoái thác rằng “bác” không lấy vợ để có lợi cho uy tín chính trị hơn.

Trong chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam, không phải chỉ có một trường hợp điển hình là Hồ Chí Minh, mà có thể còn nhiều khuôn mặt khác nữa... Hiện tượng nầy cũng không phải chỉ riêng ở Việt Nam mà là một hiện tượng chung của thế giới cộng sản. Lý do chính là trong thế giới cộng sản, không có cơ chế dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí. Từ đó không có sự chế tài đối với các lãnh tụ. Các lãnh tụ vượt ra ngoài vòng dư luận, đứng trên luật pháp, tự cho mình có quyền làm bất cứ điều gì mình thích, không sợ sự phê bình của dân chúng, cũng không sợ sự chế tài của luật pháp. Điều nầy đưa đến nhiều hậu quả tai hại rộng lớn và lâu dài cho đất nước, khiến đất nước càng ngày càng đi xuống thê thảm như tình trạng Việt Nam chúng ta ngày nay.

13-09-2006
Toronto, Canada

Trần Gia Phụng

________________________________

Chú thích

(1): Hoàng Tranh (Huang Zheng), “Hồ Chí Minh với bà vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh”, đăng trên tạp chí Đông Nam Á Tung Hoành (Trung Hoa) tháng 11-2001. Báo Diễn Đàn, Paris, số 121, tháng 9-2002 dịch đăng lại, tt. 17-20.
(2): Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l ' Indochine au Vietnam (Hồ chí Minh, từ Đông Dương đến Việt Na), Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tr. 145.
(3): Hoàng Tranh, bđd.
(4): Daniel Hémery, sđd. tr. 145. Báo Tuổi Trẻ của Thành đoàn Thanh niên CSHCM thành phố Hồ Chí Minh (tức Sài Gòn cũ) đã trích đăng lại tài liệu của Daniel Hémery trong số báo ngày 18-5-1991. Tổng biên tập báo nầy lúc đó là bà Kim Hạnh liền bị kiểm điểm và bị mất chức.
(5): Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Văn Hóa, Houston, Texas, 1997, tr. 380.
(6): Thành Tín, Về ba ông thánh, 1995, California, tr. 150-151. Thành Tín dựa vào danh sách trong một lá thư từ văn phòng cộng sản ở Hồng Kông gởi về Moscow ghi danh sáu đại biểu trong phái đoàn Đông Dương về dự đại hội của cộng sản quốc tế năm 1935. Kao Bang là Hoàng Văn Nọn tức Tú Huy hay Văn Tân.
(7): Thành Tín, sđd.
(8): Chính Đạo, sđd. tr. 380. Thành Tín, sđd. tr. 151.
(9): Thành Tín, sđd. tr. 136, 151-152. Từ giả thiết nầy, phải chăng có thể chữ T. viết tắt từ chữ “Thương”. T. Lan có nghĩa là “Thương Lan”. Ngoài ra chữ “Minh” cũng có thể phát xuất từ tên bà Tăng Tuyết Minh?
(10): Thành Tín, sđd.
(11): Thành Tín, sđd.
(12): Thành Tín, sđd.
(13): Chính Đạo, sđd. tr. 161. Theo Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng CSVN, Thành mang tên Hồ Chí Minh từ ngày 13-8-1942, nhưng theo tác giả King C. Chen (Trung Hoa), trong sách Vietnam and China, 1938-1954, Princeton Univ Press, Princeton, 1969, tt. 56-57, thì Hồ Chí Minh bị bắt năm 1942 tại Liễu Châu vì một giấy thông hành đã quá hạng được cấp năm 1940 mang tên Hồ Chí Minh.
(14): Chính Đạo, sđd. tr. 283.
(15): Chính Đạo, sđd. tr. 301. Bảy uỷ viên chính thức là: Trương Bội Công, Trương Trung Phụng (QĐD), Trần Báo (QĐD), Bồ Xuân Luật (Phục Quốc), Nghiêm Kế Tổ (QĐD), Lê Tùng Sơn (Giải Phóng, Côn Minh), và Trần Đình Xuyên. Ba uỷ viên giám sát là: Nguyễn Hải Thần (Đồng Minh Hội), Vũ Hồng Khanh (QĐD), và Nông Kính Du (Phục Quốc).
(16): Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn, 1969, tr. 75.
(17): Tiếng Latin, Lucius là tên đàn ông, Lucia là tên phụ nữ; cả hai do chữ “Lux” mà ra. “Lux” nghĩa là “ánh sáng”, có thể bắt nguồn từ chữ “Quang” hoặc chữ “Minh” đều gần nghĩa với ánh sáng.
(18): Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 607. Về vụ bà Xuân, xin xem thêm nguyệt san Thế Kỷ 21, Garden Grove, số 96, tháng 4-1997, bài “Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ Chí Minh”, của Nguyễn Minh Cần, tt. 33-40.
(19): Nguyễn Minh Cần, báo đd. tt. 37-38.
(20): Nguyễn Minh Cần, sđd.
(21): Thành Tín, sđd. tt. 149, 152.
(22): Nguyễn Thế Anh, “Hành trình chính trị của Hồ Chí Minh”, đăng trong sách do nhiều người viết, Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Nam Á, Paris, 1990, tt. 21-52. Giáo sư Nguyễn Thế Anh căn cứ trên tài liệu lưu trữ tại “Trung tâm văn khố hải ngoại, kho Slotform II/ 14”, và tài liệu của Denis Duncanson, “Ho Chi Minh in Hongkong 1931-1932”, The China Quarterly, Jan-March, 1974, tr. 79.
(23): Nguyễn Minh Cần, báo đd. tt. 36-37.
(24): Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, in lần thứ hai, 1976, tt. 5, 7 và 9. Ngày nay, trong các thư viện trong nước, khi tra cứu về tác giả Trần Dân Tiên hay T. Lan, thư mục ghi rõ : “Xin xem chủ tịch Hồ Chí Minh”.
(24): Trần Dân Tiên, sđd.
(26): Encyclopaedia Britannica, vol. 14, U. S. A. 1972, mục: Marx, Karl Heinrich, tr. 987-988. Alvin W. Gouldner, The Dialectic of Ideology and Technology, Oxford University Press, New York, 1976, tr. 104. Tác giả A .W. Gouldner (1920-1981) thương cảm trường hợp của Frederick Lewis (Henry) Demuth, nên ông đã đề tặng sách nầy cho Frederick vào đầu sách. Sách nầy là quyển đầu trong bộ sách The Dark Side of the Dialectic, gồm ba quyển. Quyển thứ nhì là The Future of Intellectuals and the Rise of the New Class (1979, và quyển thứ ba là The Two Marxisms : Contradictions and Anomalies in the Development of Theory (1980).
(27): Sau khi chế độ cộng sản Liên Xô sụp đổ năm 1991, tài liệu các lãnh tụ được công bố, người ta được biết nhiều chuyện thâm cung bí sử của Lenin, Stalin đã bị giấu nhẹm trước đó. Về Mao Trạch Đông, xin đọc Bí mật cuộc đời Mao Trạch Đông, do bác sĩ riêng của họ Mao là Lý Phục Hưng viết, Nxb. Thế Giới (chuyển ngữ), California, 1995. 

© 2006 DCVOnline
tin mới du lịch cô tô tin mới thiết bị camera cửa lưới chống muỗi cửa lưới chống muỗi tự cuốn thi công nội thất thiết kế nội thất loa đám cưới nhà nghỉ cô tô âm thanh hội trường báo online phiếu giảm giá gai goi ha noi gai goi sai gon gai goi cao cap gai goi cao cap ha noi gái gọi trần duy hưng gái gọi mỹ đình gái gọi kim liên chùa bộc danh sách gái gọi gái gọi cao cấp hà nội gái gọi sài gòn gái gọi hà nội gái gọi hà nội